11 December 2010

35 Năm Sau và Họ Là Ai ?

35 Năm Sau và Họ Là Ai ?
 
image

Ba mươi lăm năm so với chiều dài lịch sử của một triều đại thời xưa thì ngắn, nhưng với một đời người thì dài lắm, nhất là đối với những ai quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh khổ đau của dân tộc Việt Nam thì nó lại càng dài hơn.
 
image

Ba mươi lăm năm trôi qua quả thật như một giấc mơ hãi hùng! Máu, nước mắt, khổ lụy, nghiệt ngã vẫn còn đây! Những cuộc vượt thoát vô tiền khoáng hậu của người Việt trốn chạy cộng sản – mà cả thế giới đều biết – vẫn còn ghi đậm trong lịch sử nhân loại. Riêng đối với người Việt tị nạn, làm sao có thể quên được những ngày tháng hãi hùng ấy. Có lẽ nó sẽ nằm sâu, nằm mãi trong tiềm thức của mỗi chúng ta.
 
image

Ba mươi lăm năm rồi mà người đi vẫn đi, không còn đi được bằng cách vượt biển, vượt biên thì cũng tìm cơ hội khác để đi:
ODP (đoàn tụ), lấy vợ, lấy chồng, du học, chạy chọt làm sao để rời xa cái gọi là "thiên đường xã hội chủ nghĩa". Chính ngay những người theo cộng sản cả đời, những người được hưởng ơn mưa móc như núi, nhưng nếu có cơ hội ra đi là họ đi ngay để trốn khỏi cái "thiên đường" quái đản ấy.
 
image

Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách hùng hồn rằng con người không thể sống dưới chế độ cộng sản. Khổ thay, Việt Nam là một trong bốn nước cộng sản còn lại mà loay hoay mãi vẫn không thể nào thoát khỏi cái thiên đường mù đầy oan nghiệt ấy! Nếu miền Nam Việt Nam không bị bán đứng vào tay cộng sản vào 1975, thì chắc chắn, sau sự sụp đổ của khối cộng sản Ðông Âu và Nga Sô, toàn cõi Việt Nam bây giờ đã là một xứ tự do, giàu mạnh như bao nhiêu quốc gia văn minh khác. Ít ra cũng bằng Nam Hàn với nền văn minh nhân bản như ngày nay..
 
image


Khỏi cần phải tố cáo hay chê bai chế độ; khỏi cần luận tội tập đoàn cộng sản lãnh đạo đất nước đã tàn phá quê hương như thế nào sau 34 năm thống nhất hai miền Nam-Bắc; khỏi cần so sánh với các nước láng giềng và các quốc gia khác trên thế giới – cũng bằng ấy thời gian đã vươn lên như đi hia bảy dặm – mà cứ nhìn vào xã hội tan nát, luân thường đạo lý tiêu tan, thị trường cung cầu quái dị, con người chạy theo vật chất một cách điên cuồng là biết ngay.
 
image

Khỏi cần phải nghe những luận điệu vì cảm tính của một số người về thăm quê hương rồi trở lại hồ hỡi ca ngợi: "Ðất nước ngày nay khá rồi, thôn quê đã có điện nước, người dân có quyền đi lại và có quyền chửi luôn cán bộ cộng sản". Thế sao? Chỉ có ba bóng đèn thắp sáng trong vài túp lều thô sơ, nghèo khổ, lạc hậu; chỉ có vài người vụt miệng chửi đổng cán bộ là đã có tự do, là đất nước khá rồi hay sao? Trong khi đó đa số các quốc gia tự do trên thế giới đã và đang tiến vào một đời sống sung túc và văn minh nhất của con người lại không đem ra so sánh!
 
image

Ðúng! Việt Nam đã có tự do, nhưng đó là thứ tự do của giai cấp cai trị được "tự do" ăn trên ngồi trước, "tự do" trấn lột quần chúng để thụ hưởng những xa hoa, phù phiếm trên nỗi thống khổ của toàn dân, vốn đã quá khổ trong một thế kỷ qua vì chiến tranh bom đạn. Phải, Tự là "tự" họ quyết định sự sống của người khác bằng họng súng và Do là "do" họ tạo nên những thủ đoạn đê hèn để áp đảo người dân, tước đoạt mọi thứ quyền tự do căn bản của con người. 
 
image


Ðúng! Có tiến bộ, nhưng là thứ tiến bộ lừa đảo, mưu mô xảo quyệt cướp giựt để đàn áp mọi sự chống đối của người dân – khao khát hít thở không khí tự do – đã và đang đứng lên đòi tự do tôn giáo, tự do được sống làm người.

Nói tới chính trị là phải chứng minh bằng dữ kiện, bằng đường lối cai trị của một chế độ đang điều hành guồng máy quốc gia. Chế độ ấy như thế nào thì chúng ta đã thừa biết, khỏi cần nhắc lại làm gì cho tốn giấy tốn mực. Nếu họ thật tâm lo lắng cho quyền lợi của quê hương đất nước, cho người dân được hưởng những quyền tối thiểu của con người thì 35 năm qua đất nước đã khá lên rồi. Nếu họ có thật tâm xây dựng đất nước thì tại sao chúng ta phải bỏ nước ra đi, phải tiếp tục ra đi cho đến ngày nay, và phải chấp nhận sống chết trong đường tơ kẽ tóc để tìm tự do? Vì thế, những luận điệu nông cạn thiếu suy nghĩ ấy chỉ là mớ lý luận có lợi cho cục tuyên vận của CSVN.

image

Vậy, họ là ai?

Họ là những thành phần ích kỷ, chỉ biết sống cho mình, miễn sao có một đời sống sung túc trên xứ người là đã thỏa mãn. Còn quê nhà, bà con làng xóm có sống như thời kỳ "đồ đá" thì cũng mặc. Miễn sao lâu lâu ta về thăm cái xứ lạc hậu ấy để thí cho một vài đồng đô, vừa được tiếng, vừa được những người thọ ơn ca tụng cho thỏa cái tự ái vị kỷ của mình.


image
Họ là ai?

Họ là thành phần cán bộ được cộng sản cấy theo đoàn người tỵ nạn, nằm vùng khắp mọi nơi, đóng vai quốc gia trá hình, chờ cơ hội là bò dậy tấn công vào hàng ngũ người Việt Quốc Gia, vốn đã chia rẽ trầm trọng do bản chất vị kỷ, phi chính trị của những người sinh hoạt ngoài công cộng.
 
image

Họ có mặt sinh hoạt nội gian, nội gián trong mọi tổ chức, đảng phái chính trị. Mục tiêu chính của họ là phá nát các tổ chức chính trị chống cộng, bày mưu, chước kế đâm bên này, thọc bên kia, gây mâu thuẫn nội bộ, tung những nguồn tin giật gân ra ngoài làm cho quần chúng mất niềm tin... Mục tiêu của họ chỉ có thế thôi. Khi đã thành công vì phá được các tổ chức chính trị đi đến tình trạng gần như bị tê liệt thì họ đi đâu và làm gì? Dĩ nhiên là họ đã lặn thật kỹ, viện cớ chán ngán thế sự, lui về ngồi rung đùi đếm tiền và hưởng nhàn, ôm theo một đống tiền, gọi là công tác phí trọn đời.

image

Họ là ai?

Thà rằng tỏ rõ thái độ đầu hàng như một ông tướng, ông nhạc sĩ "nhớn" đã quay về với đảng và nhà nước, ăn năn sám hối để được hưởng "lộc" cuối đời. Dù xú danh muôn thuở, người đời nguyền rủa, nhưng ít ra họ đã biểu lộ thái độ chính trị dứt khoát theo cộng để người ta phân biệt lằn ranh biên giới rõ ràng giữa họ và chúng ta. Còn hơn những tên nằm vùng sống với nhiều mặt nạ khác nhau để quậy phá các tổ chức chính trị, hội đoàn, cộng đồng; thậm chí trong giới cầm bút cũng không thiếu những tên tự xưng là người cầm bút, nhưng bất xứng, lại háo danh, hám lợi.. Chính họ là một thứ bồi bút không hơn không kém, viết lách theo đơn đặt hàng, núp bóng trong tổ chức Văn Bút, để "cố đấm ăn xôi" một cách quyết liệt với mục đích xé nát tổ chức nhằm xóa bỏ dấu tích còn lại của người Việt quốc gia trên diễn đàn quốc tế.. Họ cố đấm dù không ăn được xôi đến độ một cách phi lý, phi văn hóa mà bất cứ ai có chút suy nghĩ cũng phải nghi ngờ chắc chắn đàng sau họ phải có một sức đẩy nào đó. Họ chính là "những kẻ vô lại may mắn" như nhà văn Phạm Ngũ Yên đã đặt tên trong một loạt bài tố cáo đích danh những tên vô lại này trước công luận vào năm 2008.

image

Họ là ai?

Họ cũng là những người vượt biển,vượt biên ra đi tìm tự do, nhưng sống "với vật chất và vì vật chất" nên theo thời gian, thời thế thế thời phải thế. Họ đã quay lưng, cúi đầu phục vụ trực tiếp, hay gián tiếp cho cục tuyên vận CSVN, sẵn sàng đâm vào vết thương lòng của tập thể người Việt tỵ nạn để kiếm lợi.

image

Họ là ai?

Họ là những nhà "làm chính trị" theo kiểu lập dị, với mớ lý luận thiên tả, ưa bềnh bồng, không định hướng như con thuyền không bến. Họ sống bên này với thế giới tự do văn minh, phủ phê vật chất nhưng luôn luôn mơ mộng ở một "thiên đường" khác: thiên đường của hoang tưởng, thiên đường của không tưởng. Nhưng nếu họ được sống thực trong cái "thiên đường" ấy, chắc chắn là họ phải lên cơn điên và trở thành người điên sớm nhất. Tiếc thay, khi va chạm với thực tế trong cái xã hội tha hóa ấy thì hối hận cũng đã muộn màng!

image

Họ là ai?

Họ là thành phần làm chính trị theo kiểu salon, thích đọc diễn văn "xa đấm, gần đâm". Nghĩa là ở xa thì hô hào "Ðấm" đá, nhưng ở gần thì "Ðâm" đầu bỏ chạy. Họ cứ tưởng sẽ hòa hợp được với cộng sản bằng một mớ kiến thức về kỹ thuật mà họ học được từ hải ngoại. Về nước họ sẽ được trọng dụng và đảng cộng sản sẽ nghe theo họ. Ðúng là hoang tưởng!

image

Họ là ai?

Họ là những thương gia, với quan niệm "chỉ làm thương mại, không làm chính trị". Giấc mơ của họ là giấc mơ của những "đại gia" thời mới, được nhà nước ca tụng và tâng bốc trên tận mây xanh. Trước khi đặt vấn đề đầu tiên là "tiền đâu"; dĩ nhiên là họ phải chạy theo giai cấp thống trị, làm theo lệnh của bạo quyền để kiếm lợi. Vì vậy, với thành phần chỉ biết mua bán để kiếm lợi thì trách họ làm gì cho bận tâm. Với họ. quê hương dân tộc không bằng một quả chanh, khi vắt hết nước là liệng vỏ ngay. Gần đây, nhiều "đại gia" đổ tiền về làm ăn vì được đảng nâng bi ca tụng hết mình, nhưng chỉ một thời gian sau thì những đại gia này đều bị trấn lột sạch sành sanh... kêu Trời không thấu! Cái giá "không làm chính trị, chỉ biết làm ăn" họ đã phải trả một cách cay đắng.

image

Lời kết:

May thay, dân tộc Việt trường tồn qua mấy ngàn năm nay cũng nhờ vào hồn thiêng tổ tiên phù trợ, nên thành phần "Họ Là Ai" nói trên chỉ là thiểu số ung nhọt, sâu mọt trong đại gia đình dân tộc Việt mà thời nào cũng có trong lịch sử. Còn đại đa số những người bỏ nước ra đi tìm tự do thật sự từ năm 1975 đến nay, vẫn một lòng, một chí hướng, đó là giải thể chế độ cộng sản để đưa đất nước tiến lên trong tự do dân chủ. Ngày nào còn bóng dáng cộng sản là còn đấu tranh đòi quyền sống cho đồng bào ruột thịt đang chịu đựng trăm đắng ngàn cay ở quê nhà.
 
image

Ba mươi lăm năm rồi, mặc dù những hiện tượng chia rẽ trong hàng ngũ của chúng ta đã xảy ra vì địch và vì chính chúng ta tạo nên cũng có, nhưng những chiến sĩ can trường đã và đang âm thầm hay công khai đấu đầu với CSVN ở khắp mọi nơi vẫn kiên trì, bất khuất, vẫn một lòng với đại cuộc đấu tranh chống cộng. Ở quốc nội, các vị chân tu của các tôn giáo, các nhà đấu tranh cho dân chủ vẫn không sờn lòng đứng lên đòi quyền sống, quyền hành đạo, quyền được phát biểu tư tưởng, mặc dù bị bắt bớ giam cầm dã man trong suốt 35 năm qua. Ở hải ngoại, vẫn những chiến sĩ xung trận ngăn chặn mọi sự xâm nhập của CSVN trên mọi chiến tuyến. Xin cầu chúc "chân cứng đá mềm" tới những tấm lòng bất khuất mà thời nào họ cũng đứng lên trong dòng sinh mệnh của dân tộc Việt.

image

Là những người may mắn thoát khỏi nanh vuốt của tập đoàn cộng sản, chúng ta không thể nào ngồi yên để hưởng thụ, mà đã đến lúc phải góp sức vào công cuộc chung, tiếp tay với những anh hùng đang xả thân vì nước bằng cách vận động, góp tinh thần – dù chỉ là lời nói – cho quí vị lãnh đạo tinh thần, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đang ngày đêm gian khổ, sống chết trước sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản.

image
 
Có như thế thì chúng ta mới không phụ lòng những anh hùng liệt sĩ đã nằm xuống cho chính chúng ta được sống. Có như thế thì mới không hổ thẹn với chính lương tâm mình mỗi khi nhìn lại chặng đường lưu lạc gian khổ suốt ba mươi lăm năm qua: "Ta đã làm được gì cho quê hương dân tộc"? Có như thế mới làm gương cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ nguồn gốc và tinh thần trách nhiệm đối với sự sinh tồn của dân tộc. Một Brian Doan, một Madison Nguyễn, một John Nguyễn... cũng chỉ là một thiểu số nhỏ bé, bé hơn cả những hòn sỏi khi ném xuống mặt hồ yên lặng, vẫn chưa đủ sức làm gợn sóng lăn tăn. Thế nhưng, mặt khác của vấn đề là sự tỉnh thức của chúng ta, của tập thể người Việt không cộng sản, đó là đoàn kết và cố gắng chăm sóc cho thế hệ nối tiếp gìn giữ truyền thống giáo dục gia đình.

Nhân mùa quốc nạn, xin được thắp nén hương lòng gửi đến hồn thiêng của các anh linh tử sĩ, đồng bào vượt biển, vượt biên đã anh dũng nằm xuống cho đất mẹ sớm nở hoa tự do. Ðồng thời cũng xin được nguyện cầu bình an cho những anh hùng dân tộc đang ngày đêm chiến đấu một mất một còn với CSVN trên mọi mặt trận.


Lão Gà Tre


Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị thần tượng thời nay

Điển hình nhất của lòng tôn trọng và hòa hài này là câu chuyện Đức Đạt Lai Lạt Ma thường kể trong các pháp hội. Ngài nói: "Tôi có quen biết một người bạn Âu Mỹ tu trong truyền thống Thiên Chúa Giáo của giòng tu Phan Xi Canh, một giòng tu kín và thường hay nhập ẩn tu, để trầm tư mặc tưởng (thiền theo lối Thiên Chúa Giáo). Một hôm, trong lúc nói chuyện, tôi hỏi thăm là khi ông nhập ẩn tu như vậy để mặc tưởng thì ông thiền định về điều gì? Ông ta nói rằng chỉ để thiền định về lòng nhân từ (nhân ái-từ bi) [6]. Tôi thật là thích thú nhận ra rằng căn bản của các tôn giáo vẫn là lòng từ bi. Sau một thời gian quen biết và trao đổi các kinh nghiệm tu tập, ông ta càng ngày càng thích về Phật giáo. Rồi đến một hôm, ông đến gặp tôi nói rằng, thưa Ngài, tôi bây giờ đang tìm hiểu về Tánh Không. Tôi bèn cười và nói với ông ta: đấy không phải là chuyện của ông (that is none of your business)".

Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích là vì ông ta từ xưa đến giờ vẫn tu trong truyền thống tôn giáo hữu thần, nghĩa là đặt trọng tâm trên lòng tin vào đấng Thượng Đế Toàn Năng. Nếu bây giờ tìm hiểu vào Tánh Không của Phật giáo sẽ phải loại bỏ ý niệm và lòng tin vào đấng Thượng Đế, vì Tánh Không đồng nghĩa với Nhân Quả và Duyên Khởi, nói rằng không có đấng Tạo Hóa nào sinh ra mọi sự vật, mà tất cả chỉ là do nhân duyên, tùy thuộc vào nhau mà khởi sinh. Nếu tìm học thêm như thế, ông ta sẽ có nguy cơ bị mất lòng tin vào Thượng Đế và sẽ lâm vào tình trạng rối loạn tâm linh, đó là một điều rất nguy hiểm cho người tu sĩ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị thần tượng thời nay

Không Quán


01
 Hình 1: Phu nhân Tổng thống Pháp Carla Bruni-Sarkozy tươi cười
lúc đuợc diện kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Trong thời gian qua, tác giả đã có duyên may được mời làm thông dịch viên Việt ngữ trong hai pháp hội lớn của ngài: một pháp hội tổ chức tại đại học Lehigh University trong tháng bảy, 2008 với đề tài "Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận[1]" ở tiểu bang Pensylvania và một pháp hội tháng tám, 2008 tổ chức tại tỉnh Nantes, Pháp quốc với bốn đề tài chính[2] nói về "Tánh Không" trong Phật giáo. Sau hai pháp hội đó, tác giả trở về đời sống của mình thường ngày với một tâm tư xúc động và cảm tạ sâu xa. Ở mỗi pháp hội Đức Đạt Lai Lạt Ma đều đánh dấu trên tâm tư của mọi người lòng cảm phục vô vàn. Bài viết này không có ý tóm tắt về hai pháp hội mà chỉ có ý ghi lại lòng cảm xúc sâu xa đó dưới khía cạnh Ngài là vị thần tượng của thế giới ngày nay. Ngoài giải thưởng Nobel hòa bình, ở tất cả mọi nơi trên thế giới, các vị lãnh đạo quốc gia, các trường đại học danh tiếng nhất đều tán thán và trân quý đến con người của Ngài qua những bằng tưởng lệ, huy chương hay công dân danh dự.


Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị thần tượng thời nay
 

1. Mở đầu

Trong thời gian qua, tác giả đã có duyên may được mời làm thông dịch viên Việt ngữ trong hai pháp hội lớn của ngài: một pháp hội tổ chức tại đại học Lehigh University trong tháng bảy, 2008 với đề tài "Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận [1]" ở tiểu bang Pensylvania và một pháp hội tháng tám, 2008 tổ chức tại tỉnh Nantes, Pháp quốc với bốn đề tài chính [2] nói về "Tánh Không" trong Phật giáo. Sau hai pháp hội đó, tác giả trở về đời sống của mình thường ngày với một tâm tư xúc động và cảm tạ sâu xa. Ở mỗi pháp hội Đức Đạt Lai Lạt Ma đều đánh dấu trên tâm tư của mọi người lòng cảm phục vô vàn. Bài viết này không có ý tóm tắt về hai pháp hội mà chỉ có ý ghi lại lòng cảm xúc sâu xa đó dưới khía cạnh Ngài là vị thần tượng của thế giới ngày nay. Ngoài giải thưởng Nobel hòa bình, ở tất cả mọi nơi trên thế giới, các vị lãnh đạo quốc gia, các trường đại học danh tiếng nhất đều tán thán và trân quý đến con người của Ngài qua những bằng tưởng lệ, huy chương hay công dân danh dự.

Với tác giả thì Ngài là vị thần tượng thời nay. Chữ thần tượng này không được dùng trong ý nghĩa thần thánh hóa, vì Ngài luôn luôn nói tôi chỉ đơn giản là một vị tỳ kheo Phật giáo. Thần tượng trong ý nghĩa là Ngài thật sự sống cuộc đời đơn giản và bình dị, với hai bộ áo tỳ kheo, một đôi giép cao su nhật bản qua tất cả mọi lần giao tiếp chính thức với các vị lãnh đạo nguyên thủ của các cường quốc, như mới đây chúng ta có thể nhìn hình trên các báo chí đăng tải buổi diện kiến Ngài đã tiếp vị đệ nhất phu nhân Pháp quốc Carla Bruni trong bộ áo tỳ kheo và đôi giép nhật bản. Hình Ngài thật là đơn giản bình dị như thế bên cạnh vị đệ nhất phu nhân Carla Bruni thật là sang trọng và chúng ta có thể nhận thấy rõ nụ cười nở trên đôi môi của bà Tổng Thống Pháp quốc, chứng tỏ là bà đã hoan hỷ như thế nào khi được ở bên Ngài.

Do đó chữ thần tượng ở đây không phải trong ý hướng thần thánh hóa, mà thần tượng vì con người đơn giản bình dị của Ngài đã ban cho mỗi chúng ta lòng hoan hỷ vô biên khi được sống bên Ngài, khi được nhìn sự bình dị và tấm lòng rộng lớn bao la của Ngài lúc Ngài nói câu:

Cho đến khi thế giới và các chúng sinh còn tồn tại,
Tôi xin nguyện tồn tại để phục vụ cho tất cả chúng sinh....


Đời sống của Ngài là cả sự bình dị và lòng chân thật như Ngài đã từng nói tại lần Ngài ghé thăm tu viện Ganden Ling của Dagpo Rinpoche tại ngoại ô Paris: "Điều khổ tâm nhất là phải đóng khuôn, làm vai trò giả tạo như thể mình là một vị đã đạt được một cái gì, mà cho dù có cố đóng vai trò như thế cũng không thể làm mãi mãi, vì chỉ một thời gian sau là sẽ trở thành vô cùng khổ sở...."

2. Đời sống bình dị và lòng chân thật của Ngài ban ra niềm hạnh phúc vô biên

Ở trong một thế giới hiện đại vô cùng của thế kỷ thứ 21 ngày nay, cả thế giới lao đầu vào trong cuộc sống tiêu thụ và chạy đua không ngừng nghỉ trong sự phung phí và tiện nghi. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng cảnh cáo và răn dạy là hạnh phúc không nằm trong các tiện nghi vật chất. Bởi vì càng có tiện nghi vật chất thì chúng ta càng phát triển trí thông minh và từ đó phát sinh những nhu cầu và đòi hỏi tìm kiếm về tâm linh. Nếu chúng ta không nhận chân ra là những tiện nghi vật chất không thể giải quyết những vấn đề của tâm lý mà thể hiện chính yếu qua lòng bất an sợ hãi thâm căn cố đế của mình thì chúng ta sẽ chỉ càng ngày càng lâm vào những bế tắc của đời sống khi lao đầu vào các cuộc chạy đua hưởng thụ tiện nghi vật chất. Thực vậy, khi chúng ta còn nghèo khổ, phải đầu tắt mặt tối để lo tìm giải quyết nhu cầu cơm áo thì những sự căng thẳng tâm lý không có cơ hội phát triển. Nhưng khi bụng đã được no đủ, có nhà cao cửa rộng, xe cộ tiện nghi thì những nhu cầu tâm lý và tâm linh phát triển mạnh mẽ hơn nhiều. Thêm một điều nữa ta có thể thấy rõ là khi phải chịu các sự khổ đau tinh thần thì tiện nghi vật chất không giúp ta được nhiều gì để giảm thiểu các khổ đau đó. Nhưng khi chúng ta phải chịu khổ đau vật chất hay khổ đau thể xác thì một thái độ an nhiên điềm tĩnh sẽ giúp chúng ta vượt qua các khổ đau, đau đớn thể xác dễ dàng. Như vậy thì tinh thần quan trọng hơn vật chất nhiều lắm, mặc dù các tiện nghi vật chất thực ra cũng có giúp ta phần nào trong đời sống. Nhưng trạng thái tinh thần của chúng ta mới thực sự là điều chính yếu để mang lại hạnh phúc lâu dài.

Như vậy, khi nhận ra điều căn bản đó, là thực sự chúng ta không cần nhiều nhặn gì lắm về đời sống vật chất, hai bữa cơm đơn giản một ngày và một ít quần áo ấm thân là đủ, thì chúng ta bắt đầu thực sự đi vào con đường tìm về hạnh phúc. Chúng ta thực sự cần săn sóc đời sống tâm linh của mình nhiều hơn, để đi đến niềm hạnh phúc rất đơn giản trong sự tri túc vật chất và an vui của tinh thần. Đây là điều Ngài thường nhấn mạnh: hạnh phúc và an vui của tinh thần chỉ có thể phát triển qua lòng nhân ái từ bi, an hưởng trong niềm vui sướng khi mình nhìn thấy những việc làm của mình giúp cho những người khác đạt được an vui...

Nhưng thế nào mới là làm cho những người khác an vui... Mang lại an vui cho người có phải là ban cho họ những tiền bạc của cải hay sự thành công rực rỡ và quyền lực?

Trên thực tế, chúng ta nhận thấy là không phải như vậy. Tiền bạc của cải danh tiếng chẳng thể ban cho mọi người lòng an vui. Bởi vì nếu tiền bạc của cải danh tiếng quyền lực mang đến sự an vui thì có lẽ những vị vua chúa hay là các vị lãnh đạo nguyên thủ đều được an vui. Trong khi ngược lại, chúng ta thấy những vị đó đều thường ăn ngủ không yên, lo lắng quá độ như ngồi trên lò lửa đốt, hoặc là làm việc quá độ và căng thẳng đến mức sinh ra bệnh tật như là đau tim và tiết ra nhiều chất cholesterol gây xơ cứng động mạch, tai biến mạch máu não và bại xuội.

Ngược lại, chúng ta sẽ hưởng nhiều sự an vui bên một người đầy đức hạnh mà lại thật là bình dị. Như là hình ảnh tươi cười của bà Tổng Thống Pháp quốc khi được diện kiến bên Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Chỉ cần được sống gần Đức Đạt Lai Lạt Ma để nhìn thấy đức hạnh và lòng nhân ái thật là sống động của Ngài sẽ mang lại niềm hoan hỷ tuyệt vời đó. Những điều tự mình mắt thấy tai nghe về lòng nhân ái và bình dị đó sẽ trở thành những bài học ghi tâm khắc cốt cho chúng ta, làm thành những bài học thân giáo [3] qua các hành động thực sự tự nhiên của Ngài. Trong hai pháp hội vừa qua đã có không biết bao nhiêu nhũng bài học sống động đó mà chúng ta có thể ghi chép lại một ít sau đây.


3. Lòng nhân ái và từ bi

Trong pháp hội tại Saint Herblain, tỉnh Nantes, một hôm Ngài đang thuyết giảng trên ngai, bỗng ngưng lại và chỉ vào hai vị nhân viên an ninh đang đứng bên dưới sân khấu và yêu cầu Ban Tổ Chức mang đến hai ghế ngồi cho các nhân viên đó vì Ngài nhận thấy họ đã đứng liên tục trong mấy ngày pháp hội để bảo đảm an ninh cho toàn thể hội trường. Ngài nói là hãy mang cho họ ghế ngồi để được thoải mái trong việc làm của họ, và như thế họ sẽ có đầu óc tỉnh táo hơn để làm việc được vui vẻ và hữu hiệu hơn. Hai vị nhân viên an ninh sung sướng ngồi thoải mái và rất cám ơn Ngài, một cử chỉ tuy nhỏ, nhưng đã chứng tỏ là Ngài để ý và rất quan tâm đến niềm phúc lạc của người khác qua các sự để ý thật vi tế và chi tiết.

Một hôm khác, Ngài được ông thị trưởng tỉnh Nantes tên là Jean-Marc Ayrault mời đến tòa thị sảnh để dự tiệc chiêu đãi. Hôm ấy, ông thị trưởng vừa mới đọc diễn văn xong, đi xuống về chỗ ngồi của mình trong khi Đức Đạt Lai Lạt Ma lên nói vài lời với khán giả. Ngài chưa kịp nói gì thì bỗng nghe ồn ào, ông thị trưởng kéo ghế ngồi chẳng ngờ vì lính quýnh thế nào mà kéo ghế quá ra phía sau cho nên chân ghế lọt ra ngoài sàn sân khấu và ông ta bị ngã nhào. Khán giả thấy cảnh hoạt náo của ông thị trưởng cũng bật cười. Lúc ấy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhanh nhẹn đi xuống và định đỡ ông thị trưởng lên thì các hộ vệ viên đã nâng ông đứng giậy. Nhưng Ngài cũng thân chinh mang lại một cái ghế và đặt ở giữa khán đài, đè nhấn xuống thử để xem có chắc không, rồi vừa cười vừa chỉ cái ghế và mời ông thị trưởng "an tọa!", và nói: "Trong các buổi họp long trọng thế này tôi thuờng thấy không khí quá nghiêm trọng và hay cố tìm cách làm cho mọi người thư giãn vui vẻ hơn. Nhưng mà may quá, lần này thì tôi không cần cố vì nhờ ông thị trưởng đã chuyển đổi không khí thành thoải mái và vui hơn nhiều cho chúng ta". Mọi người lại được dịp cười ồ lên và bầu không khí chuyển thành vui vẻ, rất là thân mật, không còn nghiêm trọng như trước

Lòng nhân ái và từ bi của Đức Đạt Lai Lạt Ma thật là vi tế, nhưng lại thật là đơn giản, không màu mè, không có tâm ý cố tạo, hoàn toàn "vô tâm" và "vô cầu", làm cho tất cả các người gần gũi Ngài đều cảm thấy tự nhiên, trừ bỏ hẳn các tâm cạnh tranh và giành giựt.

Con đường tu tập thực sự phải là tự "tạo dựng công đức mà không tạo dựng công đức, đó mới là thực sự tạo dựng công đức [4]".

Đó là ý nghĩa của "vô tâm" và "vô cầu" trong tất cả các hành trì tích tụ công đức qua các hạnh từ bi nhân ái. Tích mà vô tâm vô cầu nên không có người tích, không có kẻ thọ báo công đức vì dù sao cũng đã hành hạnh Thập Hồi Hướng toàn bộ công đức đến mọi chúng sinh hữu tình. Cho nên khi chúng ta ở bên người tu tập mà "vô tâm" "vô cầu" thì sẽ cảm thấy vô cùng thoải mái hoan hỷ và cùng nhau hành trì để tất cả đều trọn thành Phật đạo.

4. Lòng bình dị và chân thật

Đức Đạt Lai Lạt Ma đi đâu cũng toát ra một tâm thức thực sự bình dị và chân thật. Sự bình dị và chân thật luôn được thể hiện qua các cung cách đối thoại và trả lời dí dỏm của Ngài đối với các câu hỏi của mọi người đặt ra. Trong cả hai pháp hội ở Lehigh University cũng như tại Nantes, Ngài đã cho một khoảng thời gian để trả lời các câu hỏi, và những câu trả lời của Ngài đã chứng tỏ tâm thức bình dị và chân thật của Ngài. Mọi người, ai cũng vô cùng thần tượng và thánh hóa Đức Đạt Lai Lạt Ma. Đôi khi những câu trả lời của Ngài đã xóa những cách nhìn quá xa vời về Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Có một câu hỏi rất thú vị đã được đặt ra như sau: "Thưa Ngài, có khi nào Ngài mất lòng kiên nhẫn không (His Hollines, have you ever been loosing your patience) ?". Đức Đạt Lai Lạt Ma đã mỉm cười và trả lời câu hỏi ấy qua một câu chuyện có thực về Ngài.

Đức Đạt Lai Lạt Ma kể lại: "Tôi có từng quen biết một vị phụ nữ người Mỹ và là một nhà báo của của tờ Nữu Ước Thời Báo (New York Time). Bà ta rất thích Phật giáo và hành trì theo Phật giáo. Một lần, bà ấy đã đến gặp tôi và hỏi: Khi ra đi thì Ngài để lại cho chúng con một cái gia tài gì? (What legacy you leave to us when you depart from this life?). Tôi trả lời cho bà là tôi không cần phải nghĩ về gia tài để lại, vì như thế không đúng với giới nguyện của tôi, mà tôi chỉ hành trì đạo. Rồi bà ta lại hỏi câu ấy trong vài lần khác, và tôi cũng trả lời thêm nữa y như vậy. Sau đó bà lại đến và đặt một câu hỏi như thế, nhưng theo một kiểu khác, và lúc đó thì tôi đã không giữ được bình tĩnh nữa (nguyên văn: and I lost my temper) [5]".

Toàn hội trường bật cười lên ầm ỹ trước câu trả lời thật dí dỏm của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Câu trả lời thật bình dị và chân thật, thẳng thắn đến độ làm người nghe đôi khi cảm thấy thấy ngỡ ngàng, hồn nhiên và thú vị trước sự chân thật đó, ("và tôi đã không giữ được bình tĩnh ...and I lost my temper").

Tôi cũng ôm bụng cười lăn trước máy vi âm. Ở đây, bạn đọc thực sự cần phải sống ngay tại hội trường lúc đó mới hiểu được cung cách trả lời của Ngài, mới nhìn thẳng được vào tâm bình dị và dí dỏm của Ngài. Một sự chân thật tự nhiên thẳng thắn không hề mang cái tâm chê trách người đối diện, và nhất là không tự thần thánh hóa hay đóng vai thánh thiện, nói là mình không bao giờ mất bình tĩnh. Câu trả lời của Ngài chỉ như là một lời nhắc nhở thương yêu: hãy đừng chấp trước như thế, vì như vậy là si ngốc. Như người mẹ mắng yêu đứa con dại dột của mình: sao con lại dại ngốc thế, đâu cần phải lo lắng như vậy....

5. Lòng tôn trọng và hòa hài với các tôn giáo khác

Giữa lúc thế giới đi vào trạng thái phân hóa trầm trọng. Trước sự chia cách và bạo động tôn giáo qua những hành động của một nhóm quá khích Taliban đã đặt chất nổ tàn phá tượng Phật lớn, cao 150 bộ anh và cổ xưa đến 1700 năm trong vùng núi Hindu Kush của Afghanistan, Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn kêu gọi sự tôn trọng và hòa hài tôn giáo. Ngài vẫn thường tranh đấu cho Hồi giáo và luôn luôn tuyên bố: "Tuy có các khác biệt, nhưng tựu chung, tất cả các truyền thống tôn giáo đều có cùng một căn bản, đó là kêu gọi phát triển lòng thương, lòng nhân ái đến tất cả mọi người".

Trong cả hai pháp hội vừa qua, Đức Đạt Lai Lạt Ma đều tha thiết kêu gọi phát triển lòng tha thứ và hòa hài tôn giáo, tôn trọng tất cả các truyền thống tôn giáo khác nhau. Ở mọi nơi, Ngài luôn luôn khuyên bảo hãy tôn trọng và thông cảm lẫn nhau. Đức Đạt Lai Lạt Ma không bao giờ khuyến khích ai cải đạo. Ngài luôn luôn nói, hãy giữ truyền thông tôn giáo gia đình của quý vị, và tránh gây ra những sự xáo trộn, rối loạn tâm linh. Nhất là khi vào lúc cuối đời, ở trong tình trạng lâm chung mà bị khủng hoảng nguồn cội tâm linh (identity crisis) thì là một điều rất nguy hiểm cho thần thức người chết.

Điển hình nhất của lòng tôn trọng và hòa hài này là câu chuyện Đức Đạt Lai Lạt Ma thường kể trong các pháp hội. Ngài nói: "Tôi có quen biết một người bạn Âu Mỹ tu trong truyền thống Thiên Chúa Giáo của giòng tu Phan Xi Canh, một giòng tu kín và thường hay nhập ẩn tu, để trầm tư mặc tưởng (thiền theo lối Thiên Chúa Giáo). Một hôm, trong lúc nói chuyện, tôi hỏi thăm là khi ông nhập ẩn tu như vậy để mặc tưởng thì ông thiền định về điều gì? Ông ta nói rằng chỉ để thiền định về lòng nhân từ (nhân ái-từ bi) [6]. Tôi thật là thích thú nhận ra rằng căn bản của các tôn giáo vẫn là lòng từ bi. Sau một thời gian quen biết và trao đổi các kinh nghiệm tu tập, ông ta càng ngày càng thích về Phật giáo. Rồi đến một hôm, ông đến gặp tôi nói rằng, thưa Ngài, tôi bây giờ đang tìm hiểu về Tánh Không. Tôi bèn cười và nói với ông ta: đấy không phải là chuyện của ông (that is none of your business)".

Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích là vì ông ta từ xưa đến giờ vẫn tu trong truyền thống tôn giáo hữu thần, nghĩa là đặt trọng tâm trên lòng tin vào đấng Thượng Đế Toàn Năng. Nếu bây giờ tìm hiểu vào Tánh Không của Phật giáo sẽ phải loại bỏ ý niệm và lòng tin vào đấng Thượng Đế, vì Tánh Không đồng nghĩa với Nhân Quả và Duyên Khởi, nói rằng không có đấng Tạo Hóa nào sinh ra mọi sự vật, mà tất cả chỉ là do nhân duyên, tùy thuộc vào nhau mà khởi sinh. Nếu tìm học thêm như thế, ông ta sẽ có nguy cơ bị mất lòng tin vào Thượng Đế và sẽ lâm vào tình rạng rối loạn tâm linh, đó là một điều rất nguy hiểm cho người tu sĩ.

Nhưng điều cực kỳ hay ở đây là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khéo léo trả lời một cách thật là dí dỏm và bình dị: "đấy không phải là chuyện của ông (that is none of your business)". Và Ngài đã cười phá lên thật là thoải mái.

6. Tâm siêu thế gian và không màng đến quyền lợi chính trị

Trong một chương trình bình luận chính trị mới đây xảy ra trên đài truyền hình France 2 tại Paris, Pháp quốc, nhân lúc thời sự đang nóng bỏng về vấn đề Thế Vận Hội Quốc Tế [7] tại Bắc Kinh, liên hệ cả đến sự bất tôn trọng nhân quyền của và đàn áp Tây Tạng của Trung Cộng, một bình luận gia chuyên môn và nổi tiếng của Paris đã phân tích lý do tại sao Trung Cộng lại sợ hãi Đức Đạt Lai Lạt Ma như thế.

Ông ta đã giải thích cặn kẽ lý do tại sao mà Trung Cộng lại sợ hãi và nhất định không chịu công nhận quyền tự trị của Tây Tạng (Tibet autonomy), mặc dù Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ xin được có quyền tự trị và chấp nhận giải pháp Tây Tạng vẫn thuộc về nước Trung Cộng chứ không đòi độc lập thành quốc gia riêng rẽ. Đó là vì một lý do chủ yếu: Đức Đạt Lai Lạt Ma không màng đến quyền lực thế gian. Ngài nói rằng một khi được công nhận quyền tự trị, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ từ chức nguyên thủ của chính phủ Tây Tạng và thiết lập một chính quyền hoàn toàn tự do dân chủ qua những cuộc bầu cử quốc hội và Thủ Tướng Tây Tạng. Còn Ngài thì sẽ tự mình rút lui về cương vị một tu sĩ Phật giáo đơn thuần và chuyên hành trì mà thôi.

Trung Cộng vốn là một nước đặt căn bản điều hành trên sự thống trị bằng đàn áp phi dân chủ. Những lần chính quyền Trung Cộng đã đàn áp đẫm máu trên chính người dân đồng bào của họ như vụ biểu tình của Thiên An Môn năm 1989 đã chứng tỏ điều đó.

Ngay cả trong lần Thế Vận Hội vừa qua, người ta cũng có thể thấy rõ sự điều hành của Trung Cộng đặt toàn diện trên hệ thống quân đội và công an để giữ sự thống trị trên dân chúng và áp đặt quyền hành. Trên các đài truyền hình, chúng ta đã thấy cảnh các người dân oan kêu khóc vì bị tước đoạt nhà cửa làm Thế Vận Hội mà không được bồi thường thỏa đáng.

Do đó chính quyền Trung Cộng rất sợ hãi lòng tôn trọng dân chủ không màng đến quyền lợi chính trị của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Vị bình luận viên trên đài truyền hình France 2 còn nói rằng, với đức hạnh và tinh thần siêu thế gian, không màng đến quyền lợi chính trị, nếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thực hiện được quyền tự trị Tây Tạng sẽ làm khởi sắc lại phong trào tranh đấu cho dân chủ tại Trung Cộng, lôi kéo theo các phong trào đòi quyền tự trị khác của các vùng Tân Cương, vùng xứ Hồi, vùng Tráng tộc và Nội Mông. Một vị Đạt Lai Lạt Ma trở về được xứ Tây Tạng tự trị, tranh đấu xây dựng cho nền dân chủ của Tây Tạng và không màng đến quyền lợi chính trị sẽ được tất cả các sắc dân Trung Hoa hướng về và chiêm ngưỡng, để từ đó sẽ khởi sắc những phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ mạnh mẽ hơn cả phong trào Thiên An Môn năm 1989.

Như thế, đó mới là điều Trung Cộng sợ hãi, Đức Đạt Lai Lạt Ma và các đức hạnh của Ngài, hơn bao giờ hết.

7. Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị thần tượng bình dị trong lòng chúng ta

Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị thần tượng của thời đại chúng ta, cái thời đại mà những giá trị của lòng nhân ái, của lòng vị tha đã bị đời sống tiêu thụ và vật chất đẩy vào quên lãng. Thời nay, tất cả đều hướng sự sống về lòng vị kỷ, cho cá nhân của riêng mình. Gia đình, cha mẹ, con cái đều quay cuồng trong cuộc sống chạy theo đồng tiền và sự thành công danh tiếng.

Thế nhưng, cho dù sống trong trào lưu tiêu thụ và vật chất đó, nhân cách của Ngài đã sáng chói qua bộ áo tu bình dị và đôi giép nhật bản cố hữu. Ngài đã nổi bật lên qua đời sống bình dị và lòng chân thật của mình khi đi khắp nơi trên thế giới thuyết pháp và tranh đấu cho nhân quyền, cho lòng nhân ái, lòng vị tha và tha thứ.

Mọi nơi đều hướng về Đức Đạt Lai Lạt Ma với lòng thành kính vô biên và chia sẻ sự tranh đấu bất bạo động cao quý của Ngài.

Một người bạn đã từng hỏi tôi: "Tại sao anh không đóng góp, làm chùa, in kinh sách cho Phật giáo Việt Nam mà lại làm việc tích cực và tu tập tích cực theo truyền thống Mật tông Tây Tạng và sùng kính Đức Đạt Lai Lạt Ma?" Tôi trả lời: "Phật giáo giảng dạy giáo lý và hành trì để đạt giác ngộ. Nơi đâu có đấng giác ngộ thì mình hướng về nơi đó tu tập. Ngày xưa Đức Phật Thích Ca thành đạo và tất cả chúng ta bây giờ đều tu tập pháp của Ngài. Bằng chứng là chúng ta luôn luôn tụng đức Thích Ca là vị bổn sư qua câu Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Đức Thích Ca cũng là người Ấn độ chứ có phải là người Việt Nam đâu? Là người xứ nào, đâu phải là điều ta nên phân biệt, tổ Huệ Năng ngày xưa có nói: Phật tánh đâu có phân biệt nam bắc".

Lần khác bạn tôi bảo là, có người nói một câu như sau: "Tôi tu theo truyền thống Việt Nam vì không thích hợp truyền thống Mật tông Tây Tạng với các màu sắc sặc sỡ hoa hoè hoa sói, và hỏi tôi nghĩ sao về câu này". Tôi trả lời:
"Một lần nữa, tu học Phật giáo là để đạt giác ngộ, do đó giác ngộ là điều chính yếu chứ không nên mắc kẹt vào những màu sắc để rồi quên mục đích chính là giác ngộ. Do đó, tuy màu sắc hoa hoè mà có giác ngộ thì cứ tu theo thôi, không nên chỉ vì kẹt thấy cái màu sắc đó mà bỏ cái cốt lõi là giác ngộ bên trong. Còn nếu không có màu sắc hoa hoè mà lõi bên trong không có giác ngộ thì tu theo cũng đâu có ích gì. Tóm lại, giác ngộ mới là chính yếu, đừng quan tâm đến chuyện phụ (màu sắc) mà quên đi là mình đang đi tìm về giác ngộ. Không nên bị ngăn ngại vì chuyện phụ đó. Vả lại, theo tôi biết thì chính người nói câu không thích màu sắc hoa hoè đó cũng tu theo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, mà lại quên rằng chính bổn sư của mình là người Ấn độ và mặc quần áo hoa hoè của người Ấn độ thời xưa, và như thế đã tự mình mâu thuẫn với chính lập luận của mình."

Và sự thực thì không thể nào phủ nhận: Đức Đạt Lai Lạt Ma là vị thần tượng của thời nay. Thế giới hướng về vị thần tượng không vì thần thánh hóa, mà do sự ban phát niềm vui hạnh phúc khi được gần Ngài và sống với nhân cách cao quý đầy đức hạnh, nhưng lại thật là bình dị và chân thật của Ngài.


Không Quán


Chú thích:

[1] Tạng ngữ là Lam Rim Chen Mo. Trang nhà http://www.dalailamajuly2008.com/Welcome.html.

[2] Bốn đề tài chính là: 1. Căn bản Trung Quán Luận, 2. Thích Bồ Đề Tâm Luận, 3. Bảo Hành Vương Chính Luận, 4. Tràng Hoa Tri Kiến Luận. Trang nhà http://www.dalailama-nantes2008.fr/site_VN/intro.php.

[3] Thân giáo nghĩa là bài học đến từ sự sống của bản thân .

[4] Cùng ý nghĩa trong kinh Kim Cang.

[5] Theo cuốn sách "Un simple moine : Le Dalaï-Lama raconté par ses proches" của Déborah Hart Strober thì một nhân chứng kể lại là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời bà ta là "Tôi nghĩ là bà ngu xuẩn (I think you are stupid)".

[6] Pháp ngữ là miséricorde, miséricordieux, Anh ngữ là graciousness, mercy, merciful.

[7] Olympic Games.



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


10 December 2010

Chiến sách lớn tại Á Châu

Chiến sách lớn tại Á Châu

Đoàn Hưng Quốc

Hai mẫu tin rất đáng chú ý cho dù được tiết lộ một cách không chính thức trong tuần này:

Một viên chức cao cấp trong Bộ Ngoại Giao cho báo The Washington Post biết rằng Hoa Kỳ có thể sẽ cùng Nhật Bản và Nam Hàn thành hình một khối chống Trung Quốc (anti-China) ở vùng Bắc Á.

Thông tin từ WikiLeaks cho biết Cựu Thủ Tướng Kevin Rudd trong lần gặp Ngoại Trưởng Hillary Clinton vào tháng 3/2009 đã đề nghị thành lập một cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương, tương tự như cộng đồng EU, với mục tiêu ngăn chận sự bành trướng thế lực của Trung Quốc, và giữ vững vai trò cũng như sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

thế giới lâu nay đều nhận biết rằng Mỹ và
các nước Á Châu rồi sẽ phải phối hợp để
ngăn chặn sự bành trướng của Hoa Lục

Mặc dù thế giới lâu nay đều nhận biết rằng Mỹ và các nước Á Châu rồi sẽ phải phối hợp để ngăn chặn sự bành trướng của Hoa Lục nhưng các nhà ngoại giao vẫn tránh né không dùng chữ "kềm hãm" hay "đối đầu" nhằm không tạo thêm căng thẳng với Bắc Kinh. Đến nay các tiết lộ thông tin cho dù vô tình hay cố ý vẫn là tín hiệu rất mạnh cho thấy Trung Quốc đã đi quá đà và sẽ gặp phản ứng từ nhiều phía khác nhau.

Thế khó của Bắc Kinh là đang chuẩn bị thay đổi thành phần lãnh đạo năm 2012, nếu tìm thoả hiệp ngoại giao thì sẽ bị phê bình từ trong nội bộ hay quần chúng là thiếu cương quyết đối với phương Tây và các nước Á Châu.

Sau các biến động tài chánh tại Đông Á năm 1997 đến năm 2007 Trung Quốc được khen là mềm dẻo và có trách nhiệm - so với thái độ "cao-bồi" của Mỹ dưới thời George W. Bush. Kế đó Mỹ-Âu-Nhật đều rơi vào khủng hoảng hay kinh tế bị trì trệ; Hoa Kỳ lại thiếu quan tâm vùng Đông Á trong khi sa lầy tại Iraq và Afghanistan. Do vậy Bắc Kinh chủ quan tin tưởng rằng thời cơ đã đến để giành lại ưu thế tuyệt đối tại Á Châu vốn rơi vào tay Tây Phương và Nhật Bản trong suốt 200 năm.

Các đòi hỏi của Trung Quốc về biển Đông-Nam và Đông-Bắc Á; thái độ bao che cho Bắc Hàn và Miến Điện; phương cách hành xử đối với Tây Tạng đã xóa bỏ những thành quả ngoại giao trong 10 năm, 1997-2007. Ngay cả nếu Bắc Kinh thay đổi chính sách nay cũng đã quá muộn vì các nước láng giềng đều cảnh giác với các bài học lịch sử hàng ngàn năm nay.

* * *

Điểm tế nhị là cho dù có phải đối đầu thì cả thế giới vẫn không muốn có một bức màn sắt mới dựng lên tại châu Á vào thế kỷ 21 với tổn thất không thể lường về an ninh và kinh tế. Dần dần đi đến một chương trình bốn điểm để Hoa Kỳ có thể giải quyết nhu cầu khúc mắc này:

1. Một liên minh chặt chẻ sẽ được thành hình giữa Mỹ-Nhật–Hàn–Úc–Ấn. Năm nước này có chung các đặc điểm là nền dân chủ vững chắc, kinh tế và quốc phòng hùng mạnh. Khối năm nước đủ sức đối trọng để ngăn cản Trung Quốc có những bước phiêu lưu tìm ưu thế áp đảo về mậu dịch, tài nguyên hay an ninh.

2. Tương tự như hai tổ chức NATO và EU tại châu Âu, năm nước Mỹ-Nhật-Hàn-Úc-Ấn sẽ hợp tác thành khối an ninh và thịnh vượng nhằm thuyết phục các quốc gia không cộng sản gồm Nam Dương–Mã Lai–Thái Lan–Pakistan-Bangladesh: (a) không rơi vào quỹ đạo kinh tế của Hoa Lục (b) không bị Trung Quốc uy hiếp về quân sự (c) cải tổ kinh tế thị trường và xã hội dân sự để tham gia vào thành phần cốt lỏi.

3. Các nước lận cận Hoa Lục như Việt-Miên-Lào-Miến Điện nằm trong vùng tranh chấp: Hoa Kỳ và các đồng minh sẽ tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc nhưng đồng thời có thể chấp nhận thua thiệt nếu các thành phần lãnh đạo bị Bắc Kinh khuynh đão.

4. Mục tiêu tối hậu là thành hình một vòng đai an ninh & dân chủ & thịnh vượng tại Á Châu - không nhằm cô lập nhưng để thuyết phục rằng Trung Quốc có lợi khi tham gia hơn là tranh chấp.

Đây có thể xem là chiến sách lớn của thế kỷ 21.

Đoàn Hưng Quốc



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


09 December 2010

35 năm quá dài

35 năm quá dài

Dạ Ngân

 

Đã hơn một lần tôi tái hiện những ngày cuối tháng Tư lịch sử qua những bài viết từ góc độ của mình. Góc độ của một đứa con liệt sĩ bị mồ côi vào năm 10 tuổi, 14 tuổi vào bưng kháng chiến theo cái lý thù nhà nợ nước và sau đó là tất cả những năm tháng xây xước không thể nào quên. Một con người như vậy mà sống sót thì tâm trạng vào tháng Tư năm Bảy Lăm sẽ thế nào? Ngây ngất như thể tái sinh từ một cuộc đại phẩu, nhìn quanh thấy bên thắng và bên thua đều khóc ròng vì một nỗi mừng duy nhất: vậy là thôi súng ống bom đạn rồi, hòa bình rồi, không gì thiêng liêng hơn điều đó!

Mỗi năm kỷ niệm ngày đại thắng tôi lại chăm chú hơn với những thước phim tài liệu phát trên các kênh truyền hình. Càng lùi xa thời điểm ấy thì nhu cầu khám phá lại càng lớn. Cũng phải thôi, cái gì đã thành lịch sử đều trở nên hấp dẫn hơn với hậu thế và nó lớn vụt lên về kích cỡ cũng như những điều nó chưa được mở ra trong lòng nó. Tôi thấy rõ hơn từng giai đoạn tâm trạng của mình. Sau vui tràn thì phải là phơi phới chứ. Đáng lẽ phải là như vậy chứ. Tôi quá mẫn cảm hay dễ lạc quan hay quá "non nớt về chính trị" mà đinh ninh như vậy? Nhưng hình như đã có những sự thật khiến thời gian trăng mật với hòa bình ở trong tôi thật ngắn. Cuộc hôn nhân này có vấn đề gì sao?

Đầu tiên là những giọt nước mắt bàng hoàng của những người vợ lính cộng hòa trong gia tộc mình. Ở miền Nam gia tộc nào cũng có rất nhiều người của bên này và bên kia. Thì ra tiếng những đoàn xe GMC rung chuyển đường phố và những tiếng la ó thảng thốt tôi có nghe thấy trong nhiều đêm liền là tiếng của những người lính thất trận đang bị đưa đi đâu đó một cách bất thần, chính tôi cũng không thể biết. Tôi bắt đầu thấy vị thế hạt bụi của mình từ đó, khi mà mọi thứ với thân phận người đều do ở đâu đó rất cao rất xa làm nên chứ chúng tôi thì can dự được mấy. Trong chiến tranh sống và chết, chúng tôi được bình đẳng hơn nhiều. Sao không có thu xếp khác để có hòa giải thực sự và để dân tộc có sức mạnh mới hơn, thực sự?

Kế đến là những ngày muốn mua một mét vải cũng phải lén lút lách vào một cửa hàng vừa bị cải tạo đang phải bán chui bán nhủi những thứ đã giấu được. Lý thuyết hòa bình rồi cái gì chẳng có rơi từ ngọn cây thiên đường xuống, không còn manh giáp tươi hồng nào. Cứ thế, cải tạo công thương đánh tư sản đợt hai rồi đợt ba và những đoàn ghe xuồng nông dân giong buồm lá dừa nước đi dài từ Long An, Tiền Giang, Bến Tre xuống mạn dưới trong cơn tháo chạy địa chấn tập đoàn hóa hợp tác hóa. Một lần nữa từng gia tộc lại cưu mang và vá víu nhau, hạt gạo củ khoai cùng những nỗi niềm có tên là hậu chiến. Hòa bình thật sự được tính bằng năm hay tính bằng tháng mà lòng người loạn ly quá đỗi?

Chưa chi đã lại nghe thấy chiến tranh ở cả hai đầu đất nước. Giang sơn đã toàn vẹn chứ đâu phải năm 1946 mà không khí có vẻ "ngàn cân treo sợi tóc"? Lần này những người "non nớt chính trị" chúng tôi đã vỡ lẽ: thế giới giống như một cái xóm vậy thôi, những nhà giàu bao giờ cũng tìm cách ngồi lại với nhau để định đoạt và những kẻ thấp cổ bé họng luôn bị họ thu xếp theo kiểu nào đó. Thế thôi. Chuyện kẻ giàu sẵn và người chưa giàu, chuyện lòng tham và lòng nhân, chuyện thói đời và bi kịch của khát vọng tiến bộ…Vân vân và vân vân, một nhà văn trẻ ngộ ra, vừa ngỡ ngàng vừa choáng váng.

1982 có lẽ là thời điểm quan trọng nhất trong nhận thức của tôi về cuộc chiến đã qua, về hậu chiến đang bao trùm và về những cụm từ như chủ thuyết, quốc gia và dân tộc. Thật không thể nào quên Trại sáng tác văn học của Hội nhà văn Việt Nam bên một vũng biển vào loại đẹp nhất Việt Nam nhưng vừa có mấy chục cái xác thuyền nhân dạt vô. Rất nhiều xác của đàn bà nằm ngữa, đàn ông úp sấp. Chắc các bạn đã hình dung được tâm trạng của lũ nhà văn nhạy cảm chúng tôi trong không khí đó. Thê lương hết cỡ. Xác một bé trai chừng mười tuổi được kéo lên ngay dưới nhà Trại, trên một gộp đá trong lúc chờ Công an tới đem đi. Có bao nhiêu người đang ở các trại cải tạo khắp trong Nam ngoài Bắc? có bao nhiêu con em các doanh nghiệp thành danh phải đi Kinh tế mới? có biết bao phụ nữ và trẻ em sợ nước đã bước xuống thuyền ra biển để rồi làm mồi cho cá? có bao nhiêu mạng người đã ngã xuống nữa ở hai đầu biên cương? Một dân tộc vừa bất hạnh và vừa cố chấp với nhau, có lẽ chính vì vậy mà nỗi bất hạnh mới dai dẳng đến thế.

Từ tháng Tư ấy tới lúc nông dân bỏ xứ chạy nạn tập đoàn tập thể hóa là 5 năm, từ hiện tượng thuyền nhân đến khi chúng tôi được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh hô hào cỡi trói là 10 năm. Từng chặng 5 và 10 năm, đến giờ là 35 năm,chừng ấy thời gian là đã đủ cho nước Nhật thành cường quốc bên cạnh nước Mỹ,thời gian cũng đã đủ cho các em bé sinh ra vào thời khắc hòa bình ấy thành một người đàn ông trang lứa với nhà toán học Ngô Bảo Châu. Số người Việt Nam ra đi và không muốn quay về ngày mỗi tăng lên, kiều hối cũng tăng lên và lòng người vẫn chưa thôi ly tán.

Có cách kỷ niệm nào khác hơn không? Sao cho bên thắng không kiêu ngạo mà bên bại cũng không buồn đau mãi. Sao cho người Việt ở khắp nơi hướng con tim vào nhau và nhủ rằng: thôi thì lịch sử, hãy để mọi chuyện phán xét cho đời sau còn chúng ta, hãy cùng cầu siêu cho mọi vong linh trong thời chiến và cả trong thời bình sau ngần ấy năm qua.

Chỉ dám mong có vậy.


Dạ Ngân


Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Tạp chí LE POINT: phỏng vấn Đức Đạt-Lai Lạt-Ma


Tạp chí LE POINT: phỏng vấn Đức Đạt-Lai Lạt-Ma


                                                                                          Chuyển ngữ :  Hoang Phong


Đức Đạt-Lai Lạt-Ma : Nhất định là chống ! Quý vị là những người Thiên chúa giáo, quý vị đang làm một việc hoàn toàn lỗi thời và quá xa xưa, đấy là nhiệt tình lôi kéo người khác theo tôn giáo của mình. .......................................

 

Dalai Lama at 8th Edition of the Summit of Nobel Peace Prize Laureates in Rome - Day 1

    Dưới đây là phần chuyển ngữ của một bài phỏng  vấn  Đức Đạt -Lai Lạt-Ma do tạp chí  LE POINT của Pháp thực hiện và đăng ngày 22 tháng 1 năm 2007. Bài phỏng vấn nêu lên   nhiều vấn đề liên quan đến tín  ngưỡng, thời sự, xã hội và đồng thời nhắc đến một lời tiên đoán từ nhiều tháng trước của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma về một trận động đất giết hại 20 000 người ở bắc Ấn độ (xem phần phụ lục).

 

    Trong tháng giêng [2007] một trận động đất lớn ở bang Gujerat (Ấn độ) làm cho 20 000 người thiệt mạng đã được Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tiên đoán trước...

 

     Le Point: Thưa Ngài, trận động đất ấy có phải là một điềm bất hạnh cho nước Ấn hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Tôi cũng không biết, tuy nhiên chắc chắn đấy là kết quả phát sinh từ các nghiệp không tốt. Không có khổ đau nào bất công, cũng không có khổ nào vô cớ... Nếu như khổ đau không phải là hậu quả phát sinh từ nghiệp trong quá khứ thì thế giới này phải là một thế giới vô cùng ác độc và phi lý. Tuy nhiên muốn thấu triệt được những hiện tượng hiển nhiên ấy phải tin vào sự tái sinh, nếu không ta sẽ không thể nào hiểu được tại sao một đứa trẻ vô tội hay một thiếu phụ chưa bao giờ làm hại ai phải gánh chịu những đau đớn lớn lao. Bất cứ một hành động nào cũng đưa đến hậu quả ngay hôm nay hay ngày mai, trong kiếp sống này hay kiếp sống khác. Quy luật trên đây không chỉ tác động trên bình diện cá nhân mà còn bao gồm cả một tập thể hay một quốc gia.

 

    Le Point: Ngài có nghe nói đến chuyện "bò điên" hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Vâng, dĩ nhiên là có... Bắt những sinh vật ăn cỏ phải ăn những thực phẩm chế tạo bằng thịt thì thật là vô cùng khiếp đảm ! Quý vị cũng hiểu chúng ta sinh ra từ Thiên nhiên, là thành phần của Thiên nhiên, và Thiên nhiên cung ứng cho chúng ta mọi nhu cầu cần thiết. Chúng ta chưa biết phải đền ơn Thiên nhiên ra sao mà còn ra sức khai thác các tài nguyên sẵn có và không hề trả lại cho Thiên nhiên bất cứ gì, hơn thế nữa chúng ta còn làm đảo lộn cả trật tự thiên nhiên. Nếu tiếp tục hành động như thế dù đối với thực vật, động vật hay con người chúng ta sẽ phải nhận lãnh những hậu quả tai hại. Xin đừng phá hoại Thiên nhiên !

 

     Le Point: Vậy thì Ngài chống lại việc nhân giống vô tính (clonage - cloning) ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Vâng, đúng như thế... Những gì Thiên nhiên tạo ra đều hoàn hảo và chúng ta không có quyền chạm vào đấy.

 

    Le Point: 40% người Đức không ăn thịt. Ngài nghĩ như thế nào về sự kiện ấy ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Chúng ta chỉ có thể tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn khi nào chúng ta không giết hại thú vật. Vì lý do vệ sinh, cố tránh không nên ăn thịt.

 

    La Point: Tháng rồi Ngài có tham dự hội nghị thế giới về "Bhagavad-Gita" [Thánh Kinh của Ấn giáo]. Ngài có biết là kinh "Gita" chấp nhận sự hung bạo khi phải bênh vực vợ con, biên thùy và nền văn hóa của mình hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Có chứ, tuy nhiên chúng tôi đâu phải là Ấn giáo. Theo quan điểm Phật giáo, động cơ thúc đẩy gây ra sự hung bạo mới chính là điều quan trọng. Quý vị có biết sự tích sau đây về tiền thân của Đức Phật hay không : có một lần Ngài cùng với năm trăm người khác đang lênh đênh trên một chiếc ghe lớn. Trong số năm trăm người ấy có một tên sát nhân mưu đồ giết hết 499 người kia để cướp tiền bạc của họ. Vị tiền thân Đức Phật cố thuyết phục hắn nhưng vô ích. Ngài tự hỏi :"Vậy phải làm sao bây giờ ? Nếu giết tên sát nhân sẽ cứu được 499 mạng người nhưng phải gánh chịu nghiệp ác ; nếu không giết hắn, hắn sẽ giết hết anh chị em của mình trên chiếc ghe này". Sau cùng vị tiền thân quyết định giết tên sát nhân và chấp nhận gánh chịu nghiệp ác. Tuy nhiên hành động đó của vị tiền thân không những cứu được 499 mạng người mà còn giúp tên sát nhân tránh khỏi nghiệp hung dữ vì đã không giết hại những người vô tội. Hành động ấy tất nhiên cũng mang lại nghiệp lành !

 

    Le Point: Theo cách lý luận của Ngài thì bom hạt nhân có thể xem như chánh đáng...

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Chuyện ấy lại khác, phức tạp hơn nhiều. Rất khó để bào chữa cho quả bom trước sự tàn khốc do chiến tranh hạt nhân gây ra, dù cho quả bom được sử dụng với một chủ đích tốt. Nhân đây, tôi cũng thấu hiểu mối lo âu của người dân Ấn : quý vị cũng hiểu là năm cường quốc trên thế giới ép buộc nước Ấn không được có bom hạt nhân, thế nhưng lại tự cho mình có cái quyền ấy. Như thế vừa bất công lại vô cùng nguy hiểm. Người Ấn phải đương đầu với những mối đe dọa từ phương tây lẫn phương đông [Pakistan và Trung quốc].

 

    Le Point : Vậy phá thai có phải là một hành động hung bạo hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định đúng như thế, tốt hơn nên tránh. Tôi đồng ý nên sử dụng các phương pháp như dùng thuốc ngừa thai hoặc bao cao-su [Ngài dấu ngón tay trỏ của mình dưới vạt áo đỏ và bật cười dòn].

 

    Le Point : Thế Ngài nghĩ sao về đồng tính luyến ái ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Đấy là gì mà những người Phật giáo chúng tôi gọi là "hành động tính dục thiếu hạnh kiểm" ("mauvaise conduite sexuelle" - "wrong sexual behaviour"). Các cơ quan tính dục sinh ra là để sử dụng vào việc sinh sản giữa nam giới và nữ giới, trên quan điểm Phật giáo những gì lệch lạc đều không thể chấp nhận [Ngài đếm trên đầu ngón tay] : giữa đàn ông với đàn ông, giữa đàn bà với đàn bà, bằng miệng, bằng hậu môn, hay bằng tay...

 

    Le Point : Ngài cũng chống cả việc cải đạo ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định là chống ! Quý vị là những người Thiên chúa giáo, quý vị đang làm một việc hoàn toàn lỗi thời và quá xa xưa, đấy là việc nhiệt tình lôi kéo người khác theo tôn giáo của mình (prosélytisme - proseletysm). Tại Mông cổ chẳng hạn, các nhà truyền giáo Thiên chúa giáo cải đạo cho hàng nghìn người trước kia theo Phật giáo Tây tạng. Đồng thời người Trung quốc tại Tây tạng khuyến khích các vị cố đạo của quý vị cải đạo những người đồng hương của chúng tôi. Tại các vùng miền đông Ấn độ các nhà truyền giáo người Mỹ sử dụng các phương tiện tài chính để cải đạo các bộ tộc miền núi nghèo đói, cô lập họ với cội nguồn, văn hóa và lối sống lâu đời của tổ tiên họ để lại. Như thế thật không hợp lý : thế giới phải ngày càng cởi mở hơn. Quý vị thi hành việc cải đạo, đấy là một hình thức chiến tranh chống lại các dân tộc khác và các nền văn hóa khác không giống với dân tộc và văn hóa của quý vị. Như thế không đúng với thông điệp của đức Chúa Trời (Christ) !

 

    Le Point : Thưa Ngài, Ngài có biết là một triệu người Pháp đến gần với Phật giáo hay chăng ?

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Thế à ? Người ta bảo với tôi là con số này lên đến 5 triệu kia mà [Ngài cười] ! Tôi xin trả lời câu hỏi này bằng hai cách khác nhau : trên khía cạnh tích cực người Pháp rất thích tìm hiểu và học hỏi - thật vậy tôi còn nhớ lần đầu tiên đến Pháp vào khoảng năm 1973 thì phải, tôi vô cùng ngạc nhiên vì các ký giả đã đặt các câu hỏi rất cao siêu gần với lãnh vực triết học ; trái lại ngày nay tôi nhận thấy Phật giáo Tây tạng trên đất Pháp tương tợ như là một phong trào và người Pháp có vẻ dễ thay đổi quan điểm - đấy là gì mà tôi không tán thành - điều đó chứng tỏ nền móng tín ngưỡng lâu đời không hề ăn sâu vào văn hóa của quý vị, sự bành trướng dễ dàng của Phật giáo đã chứng minh điều ấy.

 

    Le Point : Vậy có thể xem đấy là một phong trào Phật giáo ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Có vẻ như thế ! Và tôi không tán thành một "phong trào" Phật giáo. Hơn nữa tôi nghĩ rằng người Pháp theo Thiên chúa giáo đã lâu đời vì thế cứ giữ lấy tín ngưỡng của mình. Tốt nhất cứ bảo tồn giá trị truyền thống của mình. Chỉ khi nào đã suy nghĩ thật cẩn thận và cân nhắc kỹ lưỡng và thấy Phật giáo có thể mang lại một cái gì đó nhiều hơn so với Thiên chúa giáo thì khi đó mới nên theo Phật giáo.

 

    Le Point : Có đúng là Đức Giáo hoàng đang cố gắng tìm cách ngăn chận sự suy tàn của Thiên chúa giáo hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Đúng, hành động như thế rất tốt ; hơn nữa tôi còn nhận thấy Giáo hoàng thật tuyệt vời, là một vị thầy tâm linh thành thực quan tâm đến các vấn đề đang chi phối thế giới ngày nay. Ngược lại, hơn một lần, tôi không đồng ý với cách Ngài gọi "Á châu là mảnh đất truyền bá Phúc âm trong niên kỷ thứ III" : Sự kiện ngày nay tại Tây phương không mấy khi có người đến nhà thờ và thiên hướng giảm sút không phải là một lý do để tìm cách cải đạo những người nghèo khổ ở Đông phương và để đào tạo các tu sĩ, các bà xơ (soeur) ở Ấn độ [rất nhiều nhà truyền giáo và các bà xơ Thiên chúa giáo hoạt động tại Phi châu chẳng hạn, là người Ấn gốc Kérala hay Tamil Nadu]*. Tốt hơn hết là Giáo hoàng nên chăm lo sự an lạc tâm linh cho những người Thiên chúa giáo ngay trên quê hương của quý vị : hiện nay sự khủng hoảng tâm linh đang thật sự xảy ra tại Tây phương, sự khủng hoảng đó đòi hỏi những phương thuốc hữu hiệu.

 

    Le Point : Thế nhưng Thiên chúa giáo và Phật giáo cùng chia sẻ một số giá trị nào đó, có đúng thế không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Hoàn toàn đúng như thế : cùng nêu cao tình yêu thương đồng loại, chủ trương lòng từ bi, sự tha thứ và giúp con người vượt lên các thói hư tật xấu... Tất cả các tôn giáo lớn đều mang mục đích giống nhau. Tuy nhiên phải nói Phật giáo có đôi chút khác biệt với Thiên chúa giáo : chúng tôi tin có vô lượng kiếp - và quý vị chỉ tin có một kiếp. Quý vị tin có một Vị Sáng Tạo - và chúng tôi thì không. Quý vị tin có sự tự do ý chí (libre arbitre - free will) - và chúng tôi thì nhất quyết đấy là do nơi nghiệp...

 

    Le Point : Ngài thích những chính trị gia nào nhất ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Nhất định phải là Gorbachev : ông ta đơn thương độc mã dám chống lại cả một hệ thống mà người ta tin rằng không thể nào lay chuyển được - tôi tin rằng lịch sử sẽ ghi nhớ tên ông, dù cho ông từng bị Eltsine (Yeltsin) làm cho lu mờ ; Vasclav Havel : cởi mở, duy linh, dân chủ, bất bạo động từ trong thâm tâm mình ; Jimmy Carter : ông có vẻ như một người vô tích sự, nhưng thực ra rất tích cực và đã giữ một vai trò trung gian trong nhiều cuộc tranh chấp ; Mao Trạch Đông [Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cười]...: quý vị ngạc nhiên à ? Trong giai đoạn đầu, ông ta là một nhà lãnh đạo cách mạng đưa Trung quốc ra khỏi sự nghèo đói và lạc hậu của thời Trung cổ, sau đó thì ông ta mới trở nên một tên đồ tể thật khiếp đảm.

 

    Le Point : Ngài hy vọng khi nào có thể trở về Tây tạng ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Rất khó nói trong tình thế hiện nay. Các cuộc tiếp xúc với người Trung quốc vừa được tái lập qua sự trung gian của em tôi, thế nhưng người Trung quốc là bậc thầy trong nghệ thuật nói thế này làm thế khác, hoàn toàn trái ngược lại với lời nói. Tuy rằng trước đây từ năm 1954 đến 1959, tôi vẫn thành thực nghĩ xứ Tây tạng có thể thừa hưởng chế độ xã hội chủ nghĩa mà Mao rất tha thiết và chúng tôi có thể thỏa hiệp với nhau. Thế nhưng từ năm 1957, người Trung quốc đối xử quá cứng rắn với Tây tạng - và do đó đã xảy ra cuộc nổi dậy vào năm 1959 và đã bị nghiền nát bằng sắt máu.

 

    Le Point : Có khi nào Ngài nghi ngờ điều gì hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Có, nhất định là có, trong tất cả mọi lãnh vực - nhưng không bao giờ tôi nghi ngờ bản chất vững chắc của Phật giáo như : tứ diệu đế, bất bạo động, lòng từ bi. Trái lại tôi không chắc lắm là có đến mười ngàn vị Phật [Ngài cười thật to như sấm vang] !

 

    Le Point : Vai trò của phụ nữ sẽ ra sao trong thế kỷ XXI này ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Người phụ nữ sẽ giữ một vai trò ngày càng quan trọng hơn. Sự tranh đấu nữ quyền cũng trở nên quan trọng và mang lại nhiều đổi mới : chẳng hạn như ở Tây tạng người phụ nữ từng bị ít nhiều kỳ thị qua bao thế kỷ. Tuy nhiên cũng nên hiểu là một số các vị lạt-ma thuộc các cấp bậc thật cao đã tái sinh làm người phụ nữ, và tôi có thể nói rằng hoàn cảnh người phụ nữ Tây tạng có thể tốt hơn nhiều so với các chị em người Trung quốc.

 

    Le Point : Ngài mến mộ các phụ nữ nào nhiều nhất ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Golda Meir, Indira Gandhi, Bandaranaike [cựu Thủ tướng Sri Lanka]. Và sau hết là bà Mitterand, bà là một phụ nữ thật tuyệt vời, là người Pháp quý vị thật may mắn !

 

    Le Point : Nước Tây tạng tự do sẽ đóng một vai trò như thế nào tại Á châu ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Hai vai trò : nước Tây tạng phi quân sự và phi vũ khí hạt nhân có thể làm trái độn giữa hai quốc gia Á châu khổng lồ là Ấn độ và Trung quốc, hai nước này luôn kình chống nhau từ khi giành được độc lập ; vai trò thứ hai là tất cả các con sông lớn của Á châu là Brahmapoutre, Trường giang, Mê-kông, Indus, Sutlej đều bắt nguồn từ Tây tạng, các sông này bị người Trung quốc làm ô nhiễm, người Tây tạng chúng tôi chỉ mong ước có dịp trả lại sự tinh khiết cho các con sông này. Nước Tây tạng sẽ giữ một vai trò vừa chính trị vừa môi sinh trong cộng đồng thế giới.

 

    Le Point : Đây là câu hỏi cuối cùng, thưa Ngài thế ngài Karma-pa** (Cát-mã-ba) thứ XVII hiện nay ra sao ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma: Chính quyền Ấn độ vẫn không cho phép ngài trở về tu viện Rumtek [trụ sở truyền thống của dòng Karma-pa tọa lạc tại bang Sikkim thuộc vùng Hy-mã Lạp-sơn đang bị người Trung quốc tranh giành - Ấn độ không muốn ngài Karma-pa đến Sikkim vì sợ đụng chạm đến Trung quốc]. Tuy nhiên, ngài đúng thật là vị tái sinh của ngài Karma-pa trước đây. Ngài là một nhà sư trẻ rất chân thật, đầy thiện chí, chúng tôi đang chăm lo việc giáo huấn thật cẩn thận cho ngài. Chính quyền Ấn độ nên tin tưởng nơi ngài, nếu không lớn lên biết đâu ngài vẫn còn mang một chút tình càm kém thân thiện đối với chính quyền Ấn.

 

    Le Point : Có phải ngài Karma-pa sẽ thừa kế Ngài hay không ?

 

    Đức Đạt-Lai Lạt-Ma bật cười lớn và lấy tay bấm vào nút "Ngưng" của máy thu âm và nói : "Stop" !

 

    * Các lời giải thích thêm trong hai ngoặc kép [...] thuộc vào bản chính của bài báo (không phải của người dịch).

 

    ** Ngài Karma-pa thứ XVII tên là Urgen Trinley Dorjee, 15 tuổi (vào năm 2007), là vị tái sinh của ngài Karma-pa XVI. Một phái bộ do Đức Đạt-Lai Lạt-Ma gởi đi đã khám phá ra ngài trong một gia đình du mục ở Tây tạng vào năm 1992. Ngài bị người Trung quốc bắt giữ, mặc dù họ cũng công nhận ngài chính thực là vị hóa thận của ngài Karma-pa XVI. Sau cùng vị thiếu niên trẻ tuổi trốn thoát được và dùng đường bộ vượt sang Ấn độ và tìm đến tu viên Dharamsala.

 

    Phụ lục

 

    Lời tiên tri của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma

 

    Vào tháng tám năm 2006 , Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tiên đoán một cuộc động đất sẽ xảy ra trước tháng hai năm 2007 tại miền bắc Ấn. Lời tiên đoán của Ngài sau đó được xác nhận bởi vị tiên tri chính thức Nechung của chính phủ lưu vong Tây tạng đặt tại thị trấn Dharamsala trong vùng bắc Ấn dưới chân Hy-mã lạp-sơn. Ngay sau lời tiên đoán này vị đoạt giải Nobel hòa bình cho tổ chức các buổi lễ tan-tra theo định kỳ đều đặn khẩn cầu cho Dharamsala tránh khỏi tai ương. Về phía vị Bộ trưởng Tôn giáo và Văn hóa của chính phủ lưu vong là Tashi Wangdi cũng như những người Tây tạng nói chung đều tin rằng động đất là hậu quả của những nghiệp xấu, ông cũng đã đích thân đứng ra tổ chức một buổi lễ đặc biệt. Trong toàn vùng Hy-mã Lạp-sơn thường xảy ra động đất, nhất là vào năm 1986 (Đức Đạt-Lai Lạt-Ma suýt bị một mảng trần nhà trong gian phòng của Ngài rơi trúng ; sau đó tòa nhà cư trú của Ngài được xây dựng lại đúng theo tiêu chuẩn chống động đất). Trận động đất do Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tiên đoán đã thật sự xảy ra tuy ở xa hơn về phía tây thuộc bang Gujerat. Thị trấn Dharamsala (thuộc bang Himachal Pradesh nằm về phía bắc) không hề hấn gì. F.G.

 

 

Bures-Sur-Yvette, 09.11.10

Hoang Phong chuyển ngữ



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.