09 June 2011

Hòa thượng Thích Quảng Độ nói về vụ biểu tình chống TQ

Hòa thượng Thích Quảng Độ nói về vụ biểu tình chống TQ

 

"Mục đích của cái Đảng Cộng sản là tôi biết rồi. Họ làm cách nào để giữ đảng Cộng sản mà thôi, giữ đến cùng để truyền đời cha, đời con, đời cháu, đời chắt, đời chút, đời chít đây. Cho nên dù mất nước mà còn Đảng cũng được, có thể làm tay sai thì được, sẵn sàng, chứ họ không bỏ cái đảng Cộng sản đâu..." - Hòa thượng Thích Quảng Độ



Ỷ Lan, thông tín viên RFA, Paris - Ỷ Lan phỏng vấn Hòa thượng Thích Quảng Độ việc công an ngăn cấm không cho tham dự cuộc biểu tình ngày 5.6 trước Lãnh sự quán Trung quốc ở Saigon.

 

Nhà nước nhu nhược  

 

Ỷ Lan : Kính chào Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Theo tin được biết thì Hòa thượng có dự tính cùng chư Tăng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tham gia cuộc biểu tình ôn hòa trước Lãnh sự quán Trung quốc ở Saigon đáp lời kêu gọi của giới Học sinh – Sinh viên sáng chủ nhật 5 tháng 6. Kính xin Hòa thượng cho biết lý do nào khiến Hòa thượng muốn tham gia cuộc biểu tình này ?

 

Hòa thượng Thích Quảng Độ : Lý do chính đó là vấn đề lãnh hải và lãnh thổ của Việt Nam. Tất cả những hành động của Trung quốc từ bao nhiêu năm nay thấy rõ là họ đã trắng trợn vi phạm chủ quyền, họ bất chấp luật pháp, nhất là luật biển quốc tế. LHQ đã ra quy định hải phận của các nước ven biển rất rõ ràng. Nhưng họ bất chấp cái đó, họ giẫm lên luật pháp quốc tế. Vừa rồi trầm trọng nhất, tàu Bình Minh 2 bị tấn công mà Nhà nước cũng làm lơ, chỉ có nhân dân thì lên tiếng thôi.


Cho cái bà gọi là Phát ngôn nhân lên tiếng đâu có giá trị gì. Lẽ ra cái sự kiện vừa rồi chính Nhà nước phải làm một Công hàm phản đối, mời ông Đại sứ Trung quốc ở Hà Nội đến Bộ Ngoại giao. Chính đích thân ông Ngoại trưởng Bộ Ngoại giao thay mặt cho chính phủ trao Công hàm đó cho Đại sứ Trung quốc tỏ thái độ phản đối mạnh mẽ. Còn giao cho một người phát ngôn nói cũng như thông tin trên báo chí thôi, không có hiệu quả gì.


Tôi thấy Nhà nước này quá nhu nhược rồi, không còn đủ sức để đương đầu với vấn nạn khó khăn của đất nước nữa. Cho nên bây giờ ngay đến học sinh, sinh viên tuổi còn trẻ mà đã phải quan tâm chuyện này, họ cũng thấy việc này rất trầm trọng, đáng lo. Lo cho tương lai đất nước, chủ quyền của dân tộc mà họ phải tự đứng ra kêu gọi nhau để đến trụ sở ngoại giao của Trung quốc bày tỏ thái độ bất mãn của họ, lo lắng của họ, thì những hành động như vậy tôi thấy rất kính phục. Họ là những người chưa có trách nhiệm gì nhiều với đất nước đâu, chưa tới cái tuổi phải lo, mà giờ họ đã biết lo mà họ làm như thế, thì hỏi các vị lãnh đạo chính phủ, công an, quân đội thì súng ống đầy người mà sợ ông Trung quốc à ?


Lẽ ra họ phải lên tiếng mạnh mẽ, rồi họ hô hào dân chúng ủng hộ việc này để chống lại cái sự bá quyền của Trung quốc. Như vậy mới xứng đáng là một chính phủ có chủ quyền. Bây giờ không làm việc đó mà để cho học sinh, sinh viên người ta thường gọi là "ăn chưa lo no chưa tới" phải cất lên tiếng nói, phải bảo nhau kêu gọi nhau. Họ làm được cái đó, họ kêu gọi tôi nghe tôi rất cảm động, rất xúc động và kính phục nữa. Cho nên mặc dầu tuổi già, tôi đã định cố gắng ra để chia sẻ với niềm lo âu của anh chị em.

 

Công an ngăn cản biểu tình

 

Ỷ Lan : Tin cũng cho biết công an phong tỏa các chùa thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và ngăn cản không cho Hòa thượng và Thượng tọa Thích Viên Định và chư Tăng  đến nơi biểu tình. Kính xin Hòa thượng cho biết rõ lý do cản trở này ?

 

Hòa thượng Thích Quảng Độ : 7 giờ rưỡi định xuất phát thì nhờ Thầy Viên Hỷ ở dưới Giác Hoa mời Thượng tọa Viên Định lên đây cùng đi với tôi, rồi còn các chùa thì tự đâu họ đã biết lối đó rồi, tự đâu ra đó cho nó tiện. Chỉ có riêng Thượng tọa Phó Viện trưởng, Thầy Viên Định, Thầy Viên Hỷ, Thầy Đồng Minh là đi với tôi chung một xe. Thế cho nên ở Giác Hoa, Thầy Viên Định và Đồng Minh ra thuê xe lên đây, thì ra đến đầu ngỏ là họ đã chặn rồi.


Họ chặn, họ bảo về, hôm nay thầy không đi đâu được, đi về làm việc. Họ bảo trở vào chùa họ làm việc, Thầy Viên Định có nói làm việc thì phải văn thư làm sao, chứ làm việc giữa đường ấy à ? Làm việc phải có thư báo trước hẳn hoi chứ. Họ bảo hôm nay ông không thể đi đâu được, rồi họ đẩy vào. Nhưng thầy cũng cố đi, họ nhất định họ đi theo sau. Lên đến bệnh viện Columbia thì là nhất định họ không cho đi nữa. Họ đẩy về.


Đồng thời là ở dưới nhà cho một người lên đây bảo tôi xuống làm việc. Tôi bảo tôi làm việc cái gì ? Vừa mới sáng ra, làm việc nhà nước phải có giờ, sao lại đến đây làm việc ? Tôi không xuống.


Từ sáng hôm qua cho đến đêm hôm nay, họ bao vây luôn từ đầu đường Trần Huy Liệu đây. Họ đứng bên lề đường bên chùa đây này, họ đứng dọc một hàng như thế suốt cho đến cả đêm. Vì thế mà chúng tôi đi không được. Không biết cuộc biểu tình của anh em học sinh, sinh viên chỗ Tổng lãnh sự có thành công hay không cũng chưa được biết.


Nhưng mà sáng hôm nay đọc Thông cáo báo chí của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế thì biết rằng ra vậy họ có thành công, họ có đi được đến nơi. Ngoài Hà Nội đến được tòa Đại sứ Trung quốc, trong này đến Tổng lãnh sự cũng đông người. Tôi rất mừng (cười) mừng thật. Như vậy là chỉ có mình là bị chặn thôi, và mấy chùa khác thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chặn rồi, điện thoại đều bị chặn hết.

 

Lo lắng trước vận mệnh đất nước

 

Ỷ Lan : Trước đây Hòa thượng đã nhân danh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nhiều lần lên tiếng về vấn đề Trung quốc xâm lấn hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và lãnh thổ Việt Nam. Trước diễn biến ngày nay, Hòa thượng và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất sẽ có thái độ như thế nào và có dự tính gì liên quan đến sự vụ này ? Hòa thượng nghĩ sao khi có người nói rằng việc này nên để cho Đảng và Nhà nước lo liệu, người dân không nên dính vào ?

 

Hòa thượng Thích Quảng Độ : Hồi tôi bị đày ở ngoài Bắc mười năm, dân chúng họ nói cho tôi biết như thế. Họ bảo rằng "Tất cả để Nhà nước lo, dân khỏi lo". Nhưng dân miền Bắc có cái vùng không phân biệt giữa hai chữ l và n. Họ nói có vẻ khôi hài, ở đây tất cả việc gì, đặc biệt việc chính trị thì Nhà nước bảo rằng "Dân khỏi no đã có Nhà nước no", có nghĩa là chỉ có Nhà nước no thôi, dân đói.


Tất cả công việc chính trị để Đảng và Nhà nước lo, dân khỏi quan tâm đến vấn đề chính trị. Họ nói như thế họ độc quyền làm chính trị, còn nước còn hay nước mất dân khỏi lo, đã có họ lo. Thế nhưng mà họ lo họ có làm được hay không là chuyện khác. Đây ngay trước mắt đây, người Tàu đang lấn biển, Ải Nam quan mất rồi, mà cái Ải Nam quan là địa danh thiêng liêng nhất, đánh dấu cái khí phách, cái hào hùng của tổ tiên ngày xưa. Đấy chính trị Nhà nước lo đấy, Nhà nước lo để mất nước à ? Nhà nước lo đến nỗi bán nước à ? Đó là trên đất liền, rồi hải phận đây, hai chục nghìn cây số vuông Vịnh Bắc bộ, rồi Hoàng Sa mất hẳn, Trường sa một phần, họ tự vẽ một cái hình Lưỡi bò coi như hết cả Biển Đông. Họ vẽ đến đâu mình phải công nhận đến đó.


Hỏi rằng cái chính quyền hiện giờ còn có tác dụng gì với đất nước không ?


Anh em học sinh, sinh viên họ cũng thấy thế, mà họ đã phải làm như thế, thì bây giờ Nhà nước bảo đã có Nhà nước lo đừng dính vào. Người xưa nói quốc gia hưng vong thất phu hữu trách. Khi mà đất nước lâm nguy, sự tồn vong của một dân tộc, thì người thất phu là cái người dân thường cũng phải có trách nhiệm. Chứ bây giờ Nhà nước muốn độc quyền, mà độc quyền lúc thái bình thịnh trị để độc quyền mà hưởng thì được rồi. Nhưng còn đến lúc lâm nguy, quốc nạn như thế này mình phải lo chứ !


Mục đích của cái Đảng Cộng sản là tôi biết rồi. Họ làm cách nào để giữ đảng Cộng sản mà thôi, giữ đến cùng để truyền đời cha, đời con, đời cháu, đời chắt, đời chút, đời chít đây. Cho nên dù mất nước mà còn Đảng cũng được, có thể làm tay sai thì được, sẵn sàng, chứ họ không bỏ cái đảng Cộng sản đâu.


Cho nên bây giờ tôi thấy cuộc biểu tình vừa rồi, tôi mong rằng, nếu một ngày gần đây nếu đất nước còn lâm nạn nữa thì phải toàn dân cũng theo gương đó mà đứng lên chứ không chịu trói tay ngồi đó để cho đảng Cộng sản tung hoành muốn làm gì thì làm.


Ngay bây giờ đây, tôi kêu gọi cả học sinh, sinh viên kết hợp lại từ Bắc vào Nam lập một liên minh gọi là "Liên minh Chống Ngoại xâm". Lập cái liên minh để đoàn tụ, đoàn kết lại với nhau tạo thành sức mạnh để bảo vệ đất nước này, để chống lại ngoại xâm. Tôi kêu gọi thức giả các vị còn quan tâm đến vận mệnh của đất nước, tương lai của dân tộc, lúc này là lúc nguy rồi, nếu có vị nào có tâm huyết với đất nước đứng ra kêu gọi, tôi mặc dầu già rồi tôi cũng xin xung phong làm một thành viên để giữ đất nước này.

 

Ỷ Lan : Xin cám ơn Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ.

 

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interview-superior-tqd-yl-06072011172829.html

08 June 2011

CON BÀI IRAN TRONG CHIẾN LƯỢC KINH TẾ ...

CON BÀI IRAN TRONG CHIẾN LƯỢC KINH TẾ

              VÀ ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG QUỐC

     Học viện Nghiên cứu Cao cấp về Quốc tế và Phát triển tại Genève, Thuỵ Sĩ


Iran hiện đang giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện chiến lược kinh tế và địa chính trị của Trung Quốc, đó là đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng cho Bắc Kinh và thực hiện chiến lược "cân bằng mềm" với Mỹ. Mặt khác, hai chiến lược này là hai mặt của một chiến lược toàn diện hơn mà Trung Quốc đang thực hiện từ vài năm trở lại đây, đó là đảm bảo "sự trỗi dậy một cách hoà bình" của nước này hay còn gọi một cách thông thường hơn như hiện nay là "phát triển hài hoà". Nói một cách khác, đó là sự gia tăng sức mạnh của Trung Quốc trong hệ thống quốc tế mà trước mắt chưa chú trọng tới mục tiêu là vị thế của một cường quốc hàng đầu thế giới.

Quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc và Iran

Mặc dù quan hệ giữa hai nước mới chỉ gắn bó từ năm 1971, tuy vậy, quan hệ Trung Quốc và Iran đã được gắn kết tương tự như thời kỳ "con đường tơ lụa" nối liện các quốc gia Trung Đông với Trung Hoa. Từ thời điểm 1971 và trong suốt những năm 1980 và 1990, 2 nước phát triển quan hệ hợp tác trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quân sự, theo đó Trung Quốc đóng góp lớn vào việc cải thiện khả năng phòng thủ mặt đất, trên không và trên biển của Iran. Theo Viện Nghiên cứu Hoà bình Quốc tế Stockhlom (SIPRI), Bắc Kinh đã cung cấp cho Iran lượng vũ khí thông thường trị giá 3,8 tỷ USD trong thời gian từ năm 1982 tới 2004, tức trung bình khoảng 171 triệu USD mỗi năm. Trong cuộc chiến Iran-Irak, Trung Quốc thậm chí còn là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Iran trước khi bị Nga hất cẳng vào năm 1990. Tuy nhiên, sự chuyển giao vũ khí này không phải là một chiều, cuộc khủng hoảng giữa Iran và Irak đã cho phép quân đội Trung Quốc tự hiện đại hoá đôi chút khi họ tiếp cận được các mô hình vũ khí hiện đại khác nhau của Nga và phương Tây do Iran tịch thu được của phía Irak.

Liên quan tới các loại vũ khí phi thông thường, sự hỗ trợ của Trung Quốc đã cho phép Iran có được những tiến bộ đáng kể, đặc biệt là trong vấn đề kiểm soát công nghệ hạt nhân. Sự hợp tác này bắt đầu vào năm 1985 ngay sau việc ký kết vào tháng 6 năm này một hiệp định bí mật về vấn đề sử dụng với mục đích hoà bình năng lượng hạt nhân. Hoạt động hợp tác đặc biệt này được tiến hành dựa trên việc đưa vào sử dụng Trung tâm Nghiên cứu năng lượng tại Ispahan, đây chính là trung tâm mà Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) trong một đợt thanh sát vào năm 2003 phát hiện ra rằng các hoạt động hạt nhân được tiến hành tại đây một cách lén lút không được khai báo. Thoả thuận giữa Trung Quốc và Iran còn dự kiến cung cấp cho phía Iran 4 lò phản ứng hạt nhân bao gồm cả các chất phân hạch, cũng như đào tạo trong lĩnh vực xây dựng lò phản ứng, đào tạo kỹ sư Iran tại Trung Quốc. Trong năm 1990, Trung Quốc cũng cam kết xây dựng giúp Iran một lò phản ứng với công suất 20MW có khả năng sản xuất plutoni. Tuy nhiên, dự án này chính thức không thực hiện được do "lý do kỹ thuật", có khả năng do sức ép của phía Mỹ. Tuy nhiên, một năm sau đó, Bắc Kinh cung cấp cho Iran 1.600 kg urani, cho phép các nhà khoa học Iran có thể tiến hành các giai đoạn chính của chu trình đốt cháy nhiên liệu.

Một hiệp định quan trọng khác được ký kết giữa Trung Quốc và Iran là vào tháng 9/1992, theo đó Trung Quốc sẽ hỗ trợ Iran xây dựng ít nhất 4 trung tâm hạt nhân với công suất 300 MW phục vụ sản xuất điện. Tuy nhiên, sau thoả thuận với Mỹ, Trung Quốc đã hoãn đơn đặt hàng này với Iran vào tháng 9/1995, đây chính là điều kiện mà Mỹ áp đặt với Trung Quốc để đổi lại Bắc Kinh được tiếp cận các công nghệ tiên tiến về lĩnh vực hạt nhân theo một hiệp định hợp tác được ký kết vào giữa thập niên 1980. Tháng 10/1997, cũng theo yêu cầu của phía Mỹ vốn nghi ngờ Iran muốn trang bị vũ khí hạt nhân, Trung Quốc đã chính thức hoãn mọi hợp tác hạt nhân với Teheran. Điều này gây thiệt thòi lớn cho Iran, giới lãnh đạo nước này coi đây là "sự can thiệp vào công việc nội bộ của Iran". Đối với Trung Quốc, quan hệ với Mỹ có giá hơn so với Iran, điều này vẫn đúng cho tới thời điểm hiện nay. Sau 30 năm với những xen kẽ của giai đoạn nồng ấm và giá lạnh trong quan hệ giữa 2 nước được triển khai ở cấp thượng đỉnh bằng chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng  của Tổng thống Iran, Mohammad Khatami, theo lời mời của người đồng chức, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Sau cuộc gặp được đánh giá là "bước ngoặt" giữa Bộ trưởng Quốc phòng Iran và Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương Trung Quốc lúc đó là Hồ Cẩm Đào, Tổng thống Iran và Chủ tịch Trung Quốc đã ký tuyên bố chung với nội dung "thiết lập sự hợp tác bền vững và lâu dài giữa 2 nước trong thế kỷ mới". Tuyên bố này đã được thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa 2 nước, tái khẳng định cam kết của hai nước trong việc thực hiện một thế giới không có vũ khí huỷ diệt hàng loạt và mong muốn thúc đẩy một thế giới đa cực, đồng thời lên án xu hướng bá chủ thế giới của Mỹ và sự can thiệp của Mỹ vào vùng Vịnh Persique.

Tháng 4/2002, trong chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân tới Iran với mục tiêu trên hết là xem xét mọi phương tiện nhằm phát triển nhanh chóng quan hệ kinh tế song phương trên các nền tảng cụ thể, hai bên cũng bày tỏ sự thống nhất về quan điểm trên nhiều vấn đề của khu vực và quốc tế như tố cáo ý đồ thiết lập các căn cứ quân sự thường trực của Mỹ tại Trung Á. Đây là khu vực chiến lược quan trọng (có trữ lượng dầu mỏ voà khoảng 2 tới 6% trữ lượng dầu mỏ của thế giới và từ 6-10% trữ lượng khí đốt của thế giới) đối với Trung Quốc và Bắc Kinh đang thực hiện chiến lược nhằm sử dụng khu vực này thành nguồn cung cấp năng lượng ổn định (40% khí đốt tự nhiên hoá lỏng của Trung Quốc phải nhập từ khu vực này từ nay cho tới 2020). Bằng chứng là Trung Quốc ủng hộ sự tham gia của Iran vào Tổ chức Hợp tác Thượng Hải từ năm 2005 với vai trò là nước quan sát viên. Tổ chức này không chỉ cho phép 2 quốc gia này tăng cường hợp tác song phương mà còn mang lại cho mỗi quốc gia những lợi ích không hề nhỏ. Cụ thể, đây là cơ hội cho Iran tránh được sự cô lập về ngoại giao trên trường quốc tế khi tham gia một tổ chức có thể trở thành một đối trọng đối với NATO và là một dạng tổ chức tương tự như Tổ chức Các quốc gia Xuất khẩu Dầu lửa (OPEC) tại Trung Á. Đồng thời, đây cũng là cơ hội giúp Trung Quốc khai thác được những lợi ích từ vị trí địa chiến lược của một quốc gia chủ chốt nằm giữa biển Caspi ở phía Bắc và Vịnh Persique ở phía Nam như Iran.

Những chi tiết trên cho thấy quan hệ Trung Quốc và Iran là mối quan hệ đặc biệt chứ chưa đạt tới mức một trục quan hệ Bắc Kinh – Teheran. Tuy vậy, giữa 2 nước có sự gần gũi về lịch sử, văn hoá được thể hiện rõ rệt trong nền văn minh của họ. Ngoài ra, trong lịch sử hiện đại, cả hai đều bị các Cường quốc Tây phương xâm lược, đàn áp, thậm chí cho tới tận bây giờ, những thế lực này vẫn muốn duy trì 2 quốc gia này ở trong thế yếu trên trường quốc tế và tức tối trước mối quan hệ gắn bó giữa 2 nước. Hơn nữa, Trung Quốc coi Iran là một cường quốc thống trị ở khu vực và thấy rằng liên minh với Têhêran có thể giúp chống lại chiến lược của Mỹ nhằm duy trì sự chiếm dóng toàn bộ đồng thời kiểm soát nguồn cung năng lượng của khu vực Trung Đông. Chính những lý do này đã thúc đẩy mối quan hệ song phương đặc biệt giữa Trung Quốc và Iran.

Dùng Iran để phục vụ các lợi ích về năng lượng

Chính sách ngoại giao của Trung Quốc hiện đang bị chi phối hoàn toàn bởi chính sách năng lượng của nước này, chính sách ngoại giao hạt nhân trong khuôn khổ "vấn đề Iran" cần phải được sắp xếp lại trong bối cảnh chính sách năng lượng. Do Trung Quốc cần tới nhiều nguồn năng lượng nhằm phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế siêu tốc của họ, điều này dồng nghĩa với việc duy trì sự ổn định xã hội của nước này. Theo số liệu thống kê của hãng BP vào cuối năm 2009, Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn thứ 2 thế giới (2.177 triệu tấn năng lượng được đề cập ở đây là dạng năng lượng sơ cấp: dầu lửa, khí đốt, than đá, năng lượng nguyên tử, thuỷ điện) sau Mỹ (2.182,2 triệu tấn). Nhu cầu năng lượng của Trung Quốc gia tăng hàng năm ở vào khoảng 2,6%, theo đó từ nay cho tới năm 2030, nước này sẽ phải nhập khẩu không dưới 75% nguồn năng lượng. Theo đó, đảm bảo an ninh năng lượng, đặc biệt trong lĩnh vực nguồn dầu lửa (8.625.000 thùng dầu mỗi ngày, tức 10,4% lượng tiêu thụ của thế giới và 79,8 triệu tấn khí đốt tự nhiên, tức 3% lượng tiêu thụ của thế giới) được coi là vấn đề sống còn của Trung Quốc.

Khi Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu các sản phẩm dầu lửa năm 1993 và dầu thô vào năm 1996, nước này đã hướng tới Trung Đông nhằm tìm kiếm nguồn cung cho mình. Không chỉ bởi vì khu vực này nắm giữ trữ lượng dầu lửa lớn nhất hành tinh (57%) và là nhà sản xuất dầu lửa lớn nhất thế giới (24.357.0000 thùng/ngày, tức chiếm 30% sản xuất của thế giới), mà còn vì dầu lửa được khai thác và sản xuất ở đây với giá rẻ nhất thế giới, Irak vốn cung cấp cho Trung Quốc tới 13% lượng dầu lửa sản xuất trong nước. Tuy vậy, sau hoạt động can thiệp quân sự của Mỹ vào Irak năm 2003, Trung Quốc đã phải đa dạng nguồn cung cấp dầu mỏ của mình. Bắc Kinh đã hâm nóng quan hệ trong lĩnh vực năng lượng với Iran, quốc gia nắm giữ trữ lượng lớn thứ 3 thế giới về dầu lửa (10% trữ lượng dầu của thế giới), sau Venezuela (13%) và Arabie Saoudite (20%), và đứng thứ 2 thế giới về trữ lượng khí đốt tự nhiên (16% trữ lượng của thế giới) sau Nga (24%) và trước Qatar (13,5%). Nhiều hiệp định về khai thác, sản xuất dầu lửa và khí đốt cũng như vận chuyển khí đốt tự nhiên hoá lỏng được ký kết giữa Iran và các công ty dầu khí quốc gia hàng đầu Trung Quốc. Tháng 3/2004, Tập đoàn khí đốt Zhuhai Zhenrong đã ký một thoả thuận trị giá 20 tỷ USD nhập khẩu 110 tấn đốt trong thời gian 25 năm bắt đầu từ 2008. Vào tháng 10/2004, tới lượt SINOPEC ký hợp đồng trị giá 100 tỷ USD, nhập khẩu 250-270 triệu tấn khí đốt tự nhiên hoá lỏng trong thời gian 30 năm. Theo thoả thuận này, SINOPEC sẽ tài trợ tới 51% kinh phí phát triển mỏ Yadavaran (thuộc tỉnh Khouzistan, giáp biên giới với Irắc), trữ lượng của mỏ này được dự tính lên tới 18,3 tỷ thùng dầu (với khả năng sản xuất lên tới 300.000 thùng dầu/ ngày) và 11.250 triệu tấn khí đốt. Đổi lại, SINOPEC được quyền mua 150.000 thùng dầu thôi mỗi ngày. Trong thời gian này, tại IAEA, hồ sơ hạt nhân của Iran đang là chủ đề gây tranh cãi nhất thì Trung Quốc lại triển khia mọi nỗ lực để ngăn cản Mỹ đưa vấn đề này ra Hội đồng Bảo an LHQ. Tháng 12/2006, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) đã ký một hiệp định đầu tư 11 tỷ USD nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng vận tải cho khí đốt tự nhiên hoá lỏng. Tháng 4/21009, CNPC cũng đã một lần nữa ký hợp đồng trị giá 1,7 tỷ USD nhằm phát triển phần phía Bắc của mỏ dầu lửa Azadegan phục vụ sản xuất 75.000 thùng dầu mỗi ngày trong 4 năm. Tháng 6/2009, Trung Quốc cũng đã ký một hợp đồng trị giá 4,7 tỷ USD với Công ty Dầu lửa Quốc gia Iran nhằm phát triển chu kỳ 11 của mỏ khí đốt South Pars với trữ lượng được ước tính 11.500 triệu tấn (tức chiếm 63% trữ lượng khí đốt của Iran). Lượng khí đốt này ước tính có thể đáp ứng nhu cầu cho cả châu Âu trong vòng 25 năm.

Các hiệp định trên đều đã được ký kết trong bối cảnh Iran đang bị ảnh hưởng bởi các lệnh trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Thông điệp chính trị rõ ràng được Trung Quốc và Iran gửi tới các nước phương Tây là: các lệnh trừng phạt kinh tế và tài chính không được thực hiện và không cản trở họ thực hiện các giao dịch đôi bên. Chính vì được "bảo vệ" bởi các khoản đầu tư khổng lồ nêu trên mà Iran đã tiếp tục cứng rắn chống lại Mỹ và tiếp tục mối quan hệ liên minh gần như chắc chắn với Trung Quốc, bởi Bắc Kinh không muốn các lợi ích dầu lửa và khí đốt của mình ở nơi đây bị nguy hại.

Hiện nay, gần một nửa số dầu nhập khẩu của Trung Quốc là từ Trung Đông, trong đó ¼ là từ Iran (548.000 thùng/ngày). Từ nay cho tới 2020, 2/3 hoặc thậm chí là hơn thế nữa lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc sẽ được nhập từ khu vực này. Theo dự báo, Trung Quốc sẽ phải nhập 10 triệu tấn đốt tự nhiên hoá lỏng từ Iran. Do vậy, sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nguồn năng lượng của Iran sẽ gia tăng, bởi Teheran vẫn là nhà sản xuất dầu lửa lớn thứ 2 trong khu vực (4.216.000 thùng/ngày) sau Arabie Saoudite (9.713.000 thùng/ngày) và là nhà sản xuất khí đốt lớn nhất trong khu vực (118,1 triệu tấn), trên Qatar (80,4 triệu tấn) và Arabie Saoudite (69,7 triệu tấn). Tuy nhiên, bài học Irak trước đó khiến Trung Quốc hiểu rằng "không nên bỏ tất cả trứng có được trong cùng một rỏ là Iran". Do vậy, Trung Quốc tiếp tục duy trì hoặc phát triển quan hệ năng lượng với các nhà cung cấp năng lượng khác như Yemen, Oman và Arabie Saoudite. Những diễn biến nêu trên đều được Mỹ theo dõi một cách sát sao và họ cũng đều biết rằng, Trung Quốc sử dụng cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran để làm suy yếu sức mạnh của Mỹ.

Con bài Iran trong chiến lược cân bằng mềm với Mỹ

Trung Quốc luôn khao khát trở thành một cường quốc lớn trên thế giới. Tuy vậy, trong bối cảnh thế giới đơn cực, Bắc Kinh hiểu rằng không thể thực hiện chiến lược tốn kém và mạo hiểm – "cân bằng cứng", tức đối đầu trực diện với Mỹ để tranh giành quyền bá chủ trên trường quốc tế và điều chỉnh lại thực trạng thế giới hiện nay. Nước này đã lựa chọn chiến lược đan xen cương nhu và thận trọng, đó là "chiến lược cân bằng mềm" (cân bằng hoà bình). Đây là chiến lược gây ảnh hưởng thông qua ngoại giao, các tổ chức quốc tế, luật quốc tế và các sức ép kinh tế, không phải là nhằm mục đích kìm hãm hay chống lại sức mạnh siêu cường của Mỹ ở thời điểm này mà là làm phức tạp nhiệm vụ và gia tăng các chi phí tài chính và các hoạt động chính trị của Mỹ. Trong việc giải quyết khủng hoảng hạt nhân Iran, mục tiêu của Trung Quốc là hạn chế khả năng của Mỹ trong vấn đề áp đặt chương trình nghị sự đối với các quốc gia có ảnh hưởng khác trong hệ thống quan hệ quốc tế. Trong các cuộc thảo luận tại IAEA trong thời gian từ 2004-2006, Trung Quốc đã nỗ lực ngăn cản Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc xem xét tới hồ sơ Iran như mong muốn của Mỹ. Ngoài ra, từ năm 2006, với tư cách là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Trung Quốc cũng chống lại nhiều dự thảo khác nhau do Mỹ khởi xướng nhằm tăng cường các biện pháp trừng phạt đối với Iran. Điều này cho thấy rõ việc sử dụng chiến lược cân bằng mềm mà Trung Quốc đang sử dụng.

Để thực hiện được chiến lược ngoại giao nêu trên, cần phải có một liên minh các quốc gia có cùng lợi ích và có ảnh hưởng trên trường quốc tế. Theo đó, Trung Quốc và Nga cùng đi chung một con đường, cả 2 nước đã ký Hiệp ước Hợp tác láng giềng tốt và thân thiện (FCT) vào ngày 16/7/2001, cam kết chống lại sự can thiệp của Mỹ tại Irak vào năm 2003 và mục tiêu hậu Chiến tranh Lạnh của họ là cùng thúc đẩy hệ thống đa cực trong quan hệ quốc tế. Cũng như vậy, hai đối tác chiến lược này đều là những bên ủng hộ chủ chốt đối với Iran tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Có thể nói, tại đây Mỹ đang phải đối phó với tam giác chiến lược thực sự Trung-Nga-Iran.

Theo quan điểm của Trung Quốc, xét theo luật quốc tế, các biện pháp trừng phạt Iran hiện đang còn là vấn đề gây tranh cãi, bởi với vai trò là quốc gia tham gia ký kết Hiệp ước Không Phổ biến vũ khí hạt nhân, Iran có thể phát triển nghiên cứu hạt nhân một cách hoà bình. Đây cũng là quan điểm của Trung Quốc giúp tránh bất ổn tại Iran và tại Trung Đông, nơi mà Bắc Kinh đã đầu tư rất nhiều trong những năm qua với mục đích rút ngắn khoảng cách về kinh tế và công nghệ so với Mỹ.

Đồng thời, Trung Đông cũng nhận thấy việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân cũng sẽ dẫn tới việc phổ biến vũ khí hạt nhân trong khu vực. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng tới các lợi ích của Trung Quốc. Bởi vậy, cuối cùng ngày 4/2/2006, Bắc Kinh đã bỏ phiếu thông qua việc chuyển hồ sơ hạt nhân Iran ra trước Hội đồng Bảo an, cũng như thông qua 4 nghị quyết trừng phạt Iran (Nghị quyết 1.737 ra ngày 23/12/2006, Nghị quyết 1.747 ra ngày 24/3/2007, nghị quyết 1.803 ra ngày 3/3/2008 và nghị quyết 1.929 ra ngày 10/6/2010). Tuy vậy, những biện pháp trừng phạt này đã được Trung Quốc hạn chế và không làm ảnh hưởng tới việc Bắc Kinh tiếp tục thực hiện các dự án khai thác năng lượng tại Iran.

Mặt khác, việc thông qua các lệnh trừng phạt ở mức nhẹ nhất chống lại các lệnh trừng phạt nặng nề do Mỹ đề ra cho thấy Trung Quốc đã triển khai một cách hài hoà chiến lược cân bằng mềm thông qua các hoạt động ngoại giao nhằm đạt được các kết quả trái với những ưu tiên về quyền lực bá chủ của Mỹ.

Tuy vậy, rất khó cho Trung Quốc để có thể giữ được thế cân bằng giữa các lợi ích khi sử dụng chiến lược "cân bằng mềm": đó là duy trì quan hệ với Mỹ, bởi nước này là đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc, với mức trao đổi thương mại lên tới 170 tỷ USD trong năm 2005 và 300 tỷ USD trong năm 2010. Ý chí giữ gìn hình ảnh một siêu cường hạt nhân có trách nhiệm, cam kết đấu tranh chống phổ biến vũ khí hạt nhân, đe doạ tới hoà bình và an ninh quốc tế, và sự cần thiết đảm bảo nhu cầu năng lượng tại Iran là lợi ích có ý nghĩa sống còn đối với Trung Quốc./.

TRUNG CỘNG & VIỆT CỘNG đang hè nhau đánh trận giả?!.

TRUNG CỘNG & VIỆT CỘNG đang hè nhau đánh trận giả?!.

Giới
quan sát chính trường vỉa hè đang chăm chú theo dõi mối quan hệ qua lại giữa Trung Cộng và Việt Cộng trong những ngày gần đây, thấy đang xuất hiện nhiều động thái, nhiều dấu hiệu rất đáng lưu ý…

                                                                   Bài phiếm luận của Hai Xe Ôm

1/ Phía Trung Cộng dạo này có vẻ bớt hung đồ hơn, không bắt người cướp của ngang nhiên trên biển như thời kỳ trước đây; Các ông to bà lớn Trung Cộng thì có vẻ nhã nhặn hơn, năng lui tới Việt Nam và mời quan chức Việt Cộng sang thăm Trung Quốc nhiều hơn và cũng không thấy có tuyên bố nào có ý răn đe, hăm dọa bóng gió như trước đây...

Trong các cuộc tiếp xúc, tiếp kiến này Trung Cộng luôn tỏ ra nhã nhặn, lịch sự tôn trọng, giữ thể diện cho Việt Cộng, không xách mé, làm mất mặt các "chú" Việt Cộng như thỉnh thoảng trước đây vẫn thường hay giở trò…

2/ Phía Việt Cộng từ chỗ lúng búng, "ăn không nên đọi, nói không nên lời " khi bị dư luận ép phải lên tiếng về các chuyện liên quan với Trung Cộng; giống như là mở miệng mắc quai hay sao ấy; gần đây thấy có vẻ mạnh bạo hơn, tuyên bố có vẻ rõ ràng rành rẽ, mạch lạc hơn, hung hơn…

Thái độ của phía Việt Cộng có vẻ bắt đầu giương vây, cương lên; còn Trung Cộng có vẻ thu mình lại, nhũn nhặn ra ? Phải chăng đúng điều mà cha ông từng đúc kết: mềm nắn rắn buông?

Về phía Việt Cộng, thấy quân đội, hải quân đã có các động thái cho thấy trong tư thế sẵn sàng đáp trả, ăn miếng trả miếng chứ không chịu chậm lụt như những lần khác. Đô đốc hải quân đã động viên bà con cứ yên tâm ra khơi đánh cá đi, có gì có hải quân hỗ trợ. Hình như đã tóm bắt một số tàu Trung Cộng dám vào xâm lấn lãnh hải nước mình như tin báo chí Trung Cộng đưa.

Trung Cộng có vẻ đã chùng xuống, còn Việt Cộng thì có vẻ cương cứng lên hơn chăng?


Nguyên nhân từ đâu vậy ?


Theo Hai Xe Ôm tôi thì mọi động thái diễn ra trên biển đông trong giai đoạn gần đây, đó chỉ là những nước cờ nhất thời mang màu sắc giống như động tác giả trong bóng đá…

Vậy việc hai bên đang sử dụng các động tác giả, đang ỡm ỡ với nhau trên bàn cờ " biển đông " này là để câu giờ cho việc gì; Liệu đây có là màn khởi động ỡm ờ để liếc mắt sang một bàn cờ thật khác, đó là kết cục của Dự án đường cao tốc Bắc Nam. "Ông Tướng" mà cả hai bên đang nín thở để mai phục rình để tóm, bắt cho bằng được: Đó là dự án này được Quốc hội " Gật " thông qua về chủ trương cho phép được triển khai ?

Vậy Trung Cộng thì có liên quan tới cái Dự án này khi mà các nguốn tin chính thống đã cho hay: Chính phủ mời tư vấn lập dự án là Nhật, và sẽ sử dụng công nghệ Nhật Bản-Tây Âu, công nghệ tiên tiến nhất hiện nay để xây dựng đường sắt cao tốc này, nếu được Quốc hội bấm nút thông qua.

Đây cũng là động tác giả nốt. Vì biết rõ những động thái vừa qua đều là động tác giả, một trận đánh giả nên Nhật Bản, Ngân hàng thế giới WB và Tây Âu đã lên tiếng "bóc mẽ" với công luận. Họ đã thông báo là họ hoàn toàn không có liên quan và không muốn liên quan tới phiên chợ " treo đầu dê bán thịt chó này "…

Như mọi người đều biết: đây là một dự án như các nguồn tin chính thống đã đưa, sẽ sử dụng nguồn vốn vay quốc tế; khi mới đưa ra thì nói là sẽ vay của Nhật, hiện Nhật và Tây Âu đã tuyên bố họ chưa sẵn sàng giây vào? Vậy thì Chính phủ CHXHCNVN sẽ nhằm vào đâu? Không nói mọi người cũng sẽ hiểu: chỉ còn hai ông khách sộp tiềm năng đó là Hoa Kỳ và Trung Cộng?

Nếu dùng phép loại trừ thì Hoa Kỳ sẽ bị loại đầu tiên và chỉ còn ông bạn láng giếng độc đinh đó là Trung Cộng, là quốc gia có đầy tiềm năng, khả năng để tham gia canh bạc này.

 
Đối với Trung Cộng, cho Việt Cộng vay số tiền 56 tỷ USD để đầu tư xây dựng tuyến đường sắt này là " chuyện nhỏ như con thỏ "? Tại sao Trung Cộng lại tử tế sắn sàng mở hầu bao ra mà chia sẻ rủi ro với Việt Cộng đối với dự án mà Trung Cộng biết thừa là phiêu lưu là chứa đựng yếu tố chính trị hơn là kinh tế.

Trong khi trên biển đông trước đây Trung Cộng đã nhiều lần chơi trò hải tặc trấn cướp của bà con ngư dân Quảng Ngãi từ hàng trăm triệu đồng mà vẫn sấp mặt làm ? Thế mà lại dốc hầu bao cho tuyến đường này?


                 Theo Hai Xe ÔM tôi, mở hầu bao để đầu tư cho dự án này của CHXHCNVN, Trung Cộng đoạt các lợi ích chiến lược sau đây:

- Tạo công ăn việc làm cho ngành đường sắt cao tốc Trung Cộng; bởi Trung Cộng vừa tự lực xây dựng tuyến đường sắt Thượng Hải-Bắc Kinh: từ thiết kế, thi công đến đóng các đầu mày toa xe đều do Trung Cộng tự làm tất. Mà đầu tư xây dựng cả một giây chuyền công nghệ như vậy đâu chỉ để làm mỗi tuyến Thượng Hải- Bắc Kinh.

Hiện Trung Cộng đã lập xong dự án, vận động 17 nước tham gia xây dựng một tuyến cao tốc Bắc Kinh nối Luân Đôn; Bắc Kinh nối Ấn Độ; Bắc Kinh nối Pakistan; Bắc Kinh nối Hà Nội…

Hiện nay Câu lạc bộ đường sắt cao tốc này do Trung Cộng khởi xướng chưa thấy quốc gia nào lên tiếng hưởng ứng. Tin này tờ The Telegraph của Anh đã đưa và Blog Phamvietdaonv đã dịch lại.

Như vậy, mọi động thái mà Chính phủ CHXHCNVN về dự án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam, vô tình hay cố ý đều đã trùng khớp với ý đồ chiến lược phát triển mạng đường sắt cao tốc toàn cầu của các chiến lược gia Trung Cộng nhằm tạo công ăn việc làm cho người Tàu ?

- Việc xây dựng tuyến đường sắt cao tốc nối Hà Nội- Sài Gòn, nếu Trung Cộng đầu tư cho vay, và cũng chỉ còn Trung Cộng là nước có thể cho vay, khoản tiền 56 tỷ này thì điều mà Trung Cộng tính toán không phải vì lợi ích kinh tế; đây là dự án đầu tư nhằm phục vụ cho lợi ích chính trị, đúng hơn là một canh bạc chính trị, cho những đám đánh bạc chính trị?

Như chúng ta biết, để tạo thị trường, vỏ bọc, các tay trùm xã hội đen thường hay tung tiền ra cho đám con nhà lành, đám con cha cháu ông ăn chơi; khi đám này đã nghiện rồi thì chúng sẽ trở thành cộng tác viên, thậm chí là tay sai hoặc tham gia băng đảng của chúng để quay sang: khống chế, rút ruột tài sản, danh tiếng của bố mẹ chúng là chuyện đương nhiên…

Vậy ý nghĩa chính trị của dự án đầu tư đường sắt cao tốc này là gì nếu Trung Cộng tham gia?

Thứ nhất, đối với Trung Cộng 56 tỷ USD là khoản tiền nhỏ nhưng đối với Việt Cộng lại là khoản tiền lớn; Mỹ còn nợ Trung Cộng gần ngàn tỷ USD cơ mà? Con số 56 tỷ USD là con số do phía tư vấn Nhật đưa ra, theo biểu giá tính toán của công nghệ Nhật, chi phí theo bảng lương của người Nhật. Còn nếu dự án này rơi vào tay Trung Cộng thì chắc chắn số tiền đầu tư này thấp hơn nhiều.

Chúng ta có thể so sánh với tuyền đường sắt cao tốc Bắc Kinh – Thượng Hải dài 1.318Km, hành trình 5 giờ, tốc độ 300-350Km/giờ, Trung Cộng đầu tư hết 22,6 tỷ USD; như vậy, tuyến đường sắt cao tốc Bắc Nam nếu Trung Cộng đầu tư thi công giá thành chắc chắn chỉ xoay quanh con số 30 tỷ USD?Trong khi đó căn cứ vào dự toán do tư vấn Nhật lập là 56 tỷ USD, nếu Trung Cộng bỏ vốn đầu tư toàn bộ, họ sẽ có lãi khoảng 25 tỷ USD, một khoản lãi vô cùng hấp dẫn. Bởi khi mà bỏ ra khoản chi phí trên 30 tỷ USD để làm con đường thì những người tham gia đã "được ăn, được nói, được gói" mang về rồi…Đấy cái tổ con chuồn chuồn là ở chỗ này đây.

Trong vụ này các nhà công nghiệp tàu cao tốc Tây Âu, tư vấn Nhật đã bị mượn danh; còn Quốc hội CHXHCNVN nếu bấm nút thông qua tức đã trở thành kẻ " đập bụi cho người Trung Cộng ăn chồn " rồi?

Trong giải trình mới nhất, Nhà Nước đã hé ra rằng Nhà Nước chỉ bỏ ra 31 tỷ USD còn phần còn lại sẽ được các đối tác khác hỗ trợ chắc là họ đầu tư để làm từ thiện chắc? Đúng là giấu đầu hở đuôi?!

Thế thì tại sao những người tham gia lập dự án lại không ngửa bài ra như vụ bauxite Tây Nguyên, rằng TKV sẽ vay tiền của một ngân hàng Hồng Kông, khoảng 650 triệu USD để triển khai dự án này ?

Giương con bài công nghệ Nhật-Tây Âu chỉ là mẹo giương Đông kích Tây của các nhà lập dự án của Đảng và Nhà Nước CHXHCNVN. Nếu ngửa bài ra ngay là sẽ liên doanh với Trung Cộng, vay tiền Trung Cộng thì sẽ bị dị ứng giống như việc vụ bauxite và vụ cho thuê đất trồng rừng.

Đảm bảo nếu được Quốc hội " Gật " bấm nút thông qua chủ trương, lúc đó cái đuôi Trung Cộng mới thòi ra. Vì biết tỏng điều này, biết mình bị lỡm, nên Nhật Bản ngửa bài ngay: Không có chuyện Nhật bản đầu tư cho vay, Nhật đời nào dại để cho Trung Cộng lỡm mình: cốc mò cò xơi. WB, EU cũng biết tỏng đây là trò "giương đông kích tây ", "ve sấu thoát xác" mà binh pháp Tôn-Ngô thời Xuân Thu Chiến Quốc đã từng đúc kết.

Sở dĩ các nhà đầu tư CHXHCNVN nhắm vào ông bạn Tàu là bởi Trung Cộng vừa đầu tư xây dựng xong một nhà máy đóng tàu cao tốc để trang lăp đặt cho tuyến Thượng Hải-Bắc Kinh trên 1000 km. Không nhẽ làm ra một nhà máy chỉ để sản xuất cho một đoạn đường, hiện Trung Cộng đang bí đầu ra và công ăn việc làm cho công nhân nhà máy này. Thôi thì không cách nào hay hơn là sang dụ dỗ Việt Cộng làm tàu cao tốc đi, sẽ cho vay tiền, thậm chí cho công nhân sang thi công hộ… Việt Cộng chỉ việc ngồi trong phòng máy lạnh, chỉ sau một năm sẽ có tàu cao tốc đi.

Tuyến Thượng Hải-Bắc Kinh Trung Cộng chỉ làm trong một năm là xong. Tuyến tàu cao tốc Hà Nội-Sài Gòn nếu Trung Cộng thi công bằng tiền và công nhân Hoa Lục thì chỉ vài ba năm là xong. Xong rồi nha, các chú ký sổ nợ rồi nha, lúc đó Trung Cộng mới tính sổ với các chú. Lơ mơ chuyện gì trên Biển Đông là bác bóp dái các chú; chú cấm được kêu bởi các chú đang nợ bác 56 tỷ kia mà ?

Như vậy, để phục vụ cho ván cờ thật này, để có thể cho được ông Tướng thật này vào soi của mình, Trung Cộng đã và sẽ bật đèn xanh để cho hải quân Việt Cộng tàu đánh cá của ngư dân Trung Cộng, Trung Cộng đưa tin là 30 chiếc bị hải quân nước ngoài bắt. Trung Cộng kỳ này cũng học Việt Cộng trong cách xưng hô nói là bị nước lạ bắt mất tàu, 30 chiếc mà không kêu ca gì. Sao Trung Cộng lại nhũn như chi chi chi làm vậy…
 
Về phía CHXHCNVN sắp tới thì chị Nguyễn Phương Nga sẽ lên tuyên bố bù lu bù loa lên án Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam mãnh mẽ hơn và sẽ thông tin cụ thể số tàu cá Trung Cộng, chứ không là tàu lạ đã bị hải quân Việt Cộng trừng trị,bắt sống.

Tuyên bố như vậy để tỏ ra với bàn dân thiên hạ là Việt Cộng đang chơi cứng rắn với Trung Quốc đây. Còn phía Trung Quốc sẽ cho một số blogger lên mạng Hoàn Cầu dọa sẽ chọc tiết bọn Việt Cộng tiểu bá; mặt khác bác Tôn Quốc Tường thì nhũn nhặn xoa tay đấu dịu và mang mấy chục triệu đồng đến nộp phạt để đưa tàu Trung Cộng về.
 
Những động tác cứng rắn giả, đánh trận giả sắp tới của phía Việt Cộng và nhũn nhặn xuống nước giả của các bác Trung Cộng nhằm tung hỏa mù dư luận: Rằng Việt Cộng đang cứng rắn với Trung Cộng, sằn sàng dắn mặt, ăn miếng trả miếng với Trung Cộng chứ không hèn, nhũn như chi chi chi nữa đâu. Phía nhũn như chi chi hèn bây giờ lại là Trung Cộng.

Tóm lại tất cả
những động thái mang màu sắc đánh trận giả trên đều nhằm đạt mục đích để ra từ phía Trung Cộng: Nếu các chú Việt Cộng chịu nôn ra đây 56 tỷ USD thì các chú có gọi các bác là chó, là lợn, là sài lang… hay là gì gì cũng đều không quan trọng.

Còn khi các chú đã theo ý ta,
nếu các các chú muốn có tiền uống rượu hợp pháp, các bác sẽ xui mấy tàu đánh cá Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam để cho các chú bắt, các bác sẽ đưa tiền nộp phạt để cho các chú có tiền uống rượu. Lấy tiền xử phạt tàu Trung Cộng đem uống rượu thì oai vô cùng, thơm vô cùng ?!

Xe ôm là đám bám vào vỉa hè để kiếm sống, muốn sống được thì phải biết luồn lách, chụp giật, ỡm ờ…Do vậy nếu như Hai Xe Ôm tôi có "suy bụng ta ra bụng bò" điều gì đó chưa phải thì cũng mong bà con đại xá…
Hai xe ôm

07 June 2011

Núi lửa Chile biến bầu trời thành đen kịt

Núi lửa Chile biến bầu trời thành đen kịt

Những cột khói bụi cao ngất đã bốc lên từ cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle ở miền nam Chile sau khi nó "thức giấc" hồi cuối tuần qua, biến bầu trời khu vực thành một màu đen kịt, các nhân chứng cho hay.

Cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle, nằm cách thủ đô Santiago khoảng 800km về phía nam, đã thức giấc lần đầu tiên sau hơn 50 năm qua hôm 4/6.

Giới chức địa phương đã phải sơ tán 3.500 người sống ở các khu vực lân cận.


Sét đánh trúng núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle ngày 5/6.





Lần gần đây nhất cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle phun trào là vào năm 1960.

Núi lửa này đã có dấu hiệu giảm cường độ hôm qua nhưng tro bụi vẫn bao phủ bầu trời khu vực.

Chile là quốc gia có nhiều núi lửa hoạt động nhiều thứ 2 thế giới, sau Indonesia.

Mây tro bụi từ núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle đã bay tới quốc gia láng giềng Argentina.

Một công nhân đang ủi tro bụi núi lửa trên đường phố của thành phố San Carlos de Bariloche, miền nam Argentina.


Một chiếc ôtô bị tro bụi núi lửa phủ kín ở San Carlos de Bariloche.



Một người đàn ông rửa mái nhà bị tro bụi bao phủ tại thành phố San Carlos de Bariloche.

Tro bụi bao phủ bầu trời...



... và trên đường phố San Carlos de Bariloche.

Cụm núi lửa tại Chile "thức giấc", hàng nghìn người sơ tán
(Dân trí) - Một cụm núi lửa ở miền nam Chile đã "thức giấc" sau hơn 50 năm ngủ yên, khiến hàng nghìn người dân sống trong các khu vực lân cận phải đi sơ tán.
Khói bụi bốc lên từ cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle.

Những cột khói lớn đã bốc lên từ cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle, nằm cách thủ đô Santiago khoảng 800km về phía nam.

Các nhân chứng cũng cho biết ngửi thấy mùi tro bụi và sulphur khá mạnh. Hơn 10 trận động đất nhỏ đã được ghi nhận trong khu vực trước khi đợt phun trào của cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle bắt đầu.

Giới chức đã đưa ra cảnh báo đỏ - mức độ cảnh báo cao nhất - đối với khu vực.

Lệnh sơ tán đã được đưa ra đối với khoảng 3.500 người sống trong các khu vực lân cận, các quan chức địa phương cho biết.

Họ nói thêm rằng người dân sẽ được sơ tán tới các trung tâm tạm trú tại những nơi an toàn. Chưa có báo cáo về trường hợp thương vong nào cho tới nay.

Tuy nhiên, mây tro bụi đã bay tới quốc gia láng giềng Argentina, nơi giới chức đã yêu cầu đã yêu cầu người dân địa phương ở nguyên trong nhà.
Một sân bay nhỏ tại thành phố Bariloche của Argentina đã bị đóng cửa do tro bụi núi lửa.

Nhân chứng Juli Kessler cho biết cô đã nhìn thấy "những đám mây đen khổng lồ treo lở lửng trên dãy núi Andes" và tro bụi đã rơi xuống các con đường.
Đây là lần đầu tiên cụm núi lửa Puyehue-Cordon-Caulle phun trào kể từ năm 1960.

Chile là một trong những quốc gia có nhiều núi lửa hoạt động nhất thế giới.

06 June 2011

NĂM ĐIỀU HOANG ĐƯỜNG VỀ: ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

NĂM ĐIỀU HOANG ĐƯỜNG VỀ: ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC


1-  "Trung Quốc là chủ nghĩa cộng sản chỉ trên danh nghĩa"


Quan niệm trên là sai lầm. Nếu Vladimir Lenin tái sinh ở Bắc Kinh vào thế kỷ 21 và tìm cách quay mắt khỏi các toà nhà chọc trời tráng lệ và sự tiêu dùng xa hoa của thành phố này, ông sẽ nhận ngay ra trong đảng Cộng sản Trung Quốc đang cầm quyền một bản sao của hệ thống mà ông đã thiết kế gần một thế kỷ trước dành cho những người chiến thắng của cuộc Cách mạng Bônsêvích. Chỉ cần nhìn vào cơ cấu của đảng là thấy được hệ thống chính trị của Trung Quốc vẫn còn mang tính cộng sản – và theo chủ nghĩa Lênin như thế nào.

Đúng là từ trước đây rất lâu Trung Quốc đã vứt bỏ cốt lõi của hệ thống kinh tế cộng sản, thay thế chế độ kế hoạch tập trung cứng nhắc bằng các doanh nghiệp nhà nước có đầu óc kinh doanh cùng tồn tại với khu vực tư nhân đầy sức sống. Tuy nhiên, mặc dù việc tự do hoá nền kinh tế của họ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn thận trọng giữ quyền kiểm soát các đỉnh cao chỉ huy hoạt động chính trị thông qua sự nắm chắc "3 P" của đảng: nhân sự (personnel), tuyên truyền (propaganda) và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA). PLA là quân đội của đảng chứ không phải của đất nước. Không như ở phương Tây, nơi những sự tranh cãi thường nổi lên về việc chính trị hoá quân đội tiềm tàng, ở Trung Quốc, đảng không ngừng cảnh giác với hiện tượng ngược lại, hiện tượng phi chính trị hoá quân đội. Mối lo sợ của họ rất dễ thấy: sự mất quyền kiểm soát của đảng đối với các tướng lĩnh và binh lính của họ. Vào năm 1989, một vị tướng đã từ chối đưa các binh lính của ông đến Bắc Kinh để giải tán các sinh viên ra khỏi Quảng trường Thiên An Môn, một vụ việc hiện nay vẫn khắc sâu trong ký ức chung của tầng lớp cầm quyền. Xét cho cùng, việc quân đội đàn áp các cuộc biểu tình đã duy trì sự nắm giữ quyền lực của đảng vào năm 1989, và các nhà lãnh đạo của đảng kể từ đó đã ra sức giữ các tướng về phía mình, phòng trường hợp cần đến họ để lại đàn áp các cuộc phản kháng.

Giống như ở Liên Xô, đảng kiểm soát giới truyền thông thông qua Ban Tuyên truyền, đưa ra các chỉ dẫn hàng ngày, cả chính thức bằng văn bản và bằng thư điện tử và các tin nhắn, lẫn không chính thức thông qua điện thoại, cho các phương tiện truyền thông. Những chỉ dẫn này chỉ ra, thường là rất chi tiết, tin tức mà đảng cho là nhạy cảm – chẳng hạn việc trao giải thưởng Nobel Hoà bình cho Lưu Hiểu Ba – cần phải được xử lý như thế nào hay liệu cuối cùng có nên đăng tải hay không.

Có lẽ quan trọng nhất là đảng ra lệnh cho mọi sự bổ nhiệm nhân sự cấp cao ở các bộ và các công ty, các trường đại học và các phương tiện truyền thông, thông qua một thể chế mờ ám và ít được biết đến gọi là Ban Tổ chức. Thông qua ban này, đảng giám sát hầu như mọi vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực của đất nước này. Rõ ràng là người Trung Quốc nhớ mệnh lệnh của Stalin rằng các cán bộ quyết định mọi việc.

Quả thực, nếu người ta đánh giá Đảng Cộng sản Trung Quốc dựa trên bảng đối chiếu mang tính định nghĩa của Robert Service, nhà sử học kỳ cựu của Liên Xô, thì những điểm tương đồng là đáng kể. Giống như chủ nghĩa cộng sản trong thời hoàng kim ở bất cứ nơi nào khác, đảng Cộng sản ở Trung Quốc diệt trừ hay làm suy yếu các đối thủ chính trị, xoá bỏ quyền tự quyết của các toà án và giới truyền thông, hạn chế tôn giáo và xã hội dân sự, gièm pha các cách giải thích đối địch về dân tộc, tập trung sức mạnh chính trị, thiết lập mạng lưới cảnh sát an ninh rộng khắp, và đưa những kẻ chống đối đến các trại lao động. Đây là lý do thích hợp giải thích tại sao hệ thống Trung Quốc thường được miêu tả là "Chủ nghĩa Lênin-thị trường".

2-  "Đảng kiểm soát mọi lĩnh vực đời sống ở Trung Quốc"

Không còn nữa. Không nghi ngờ gì, Trung Quốc  đã là một nhà nước chuyên chế dưới sự cai trị của Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến khi ông qua đời vào năm 1976. Trong thời kỳ tồi tệ đó, các công nhân bình thường không chỉ phải xin phép người giám sát họ mới được kết hôn, mà còn phải xin phép để được sông chung với vợ/chồng của họ thậm chí cả thời điểm chính xác để bắt đầu có con cũng phụ thuộc vào cái gật đầu từ cấp trên.

Kể từ đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhận ra rằng sự can thiệp quá mức như vậy vào cuộc sống riêng tư của người dân là cản trở cho việc xây dựng một nền kinh tế hiện đại. Dưới các cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình khởi động vào cuối những năm 1970, đảng này đã dần loại bỏ mình khỏi cuộc sống riêng tư của mọi người dân trừ những kẻ cứng đầu cứng cổ nhất trong những người bất đồng quan điểm. Vào những năm 1980 và 1990 sự suy yếu của chế độ cũ đảm bảo nơi làm việc trong nhà nước chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội khác suốt đời cũng đã xóa bỏ hệ thống kiểm soát phức tạp tập trung vào các uỷ ban địa phương, mà trong số các mục tiêu khác được sử dụng để theo dõi những người dân thường.

Đảng được hưởng lợi lớn từ sự thay đổi này, cho dù nhiều thanh niên những ngày này hầu như không biết đảng làm gì và cho rằng đảng không liên quan đến cuộc sống của họ. Điều này hoàn toàn hợp với các nhà lãnh đạo của đảng. Dù sao thì người dân thường không được khuyến khích quan tâm đến các hoạt động nội bộ của đảng. Các cơ quan đầy quyền lực của đảng như Ban Tổ chức và Ban Tuyên truyền không có bảng hiệu ở bên ngoài văn phòng của họ. Họ không công khai số điện thoại. Cách ứng xử kín đáo của họ về mặt chiến lược là rất thông minh, giữ các hoạt động hàng ngày của họ nằm ngoài tầm mắt của quần chúng trong khi cho phép đảng hưởng mọi công lao vì sự phát triển kinh tế nhanh chóng của đất nước. Việc này cho thấy sự thoả thuận lớn của Trung Quốc có tác động như thế nào: đảng cho phép các công dân quyền tự do cải thiện cuộc sống của họ, miễn là họ tránh xa chính trị.

3-  " Internet sẽ lật đổ Đảng Cộng Sản Trung Quốc "

Không đúng. Một thập kỷ trước đây, Bill Clinton đã có một nhận xét nổi tiếng rằng những nỗ lực của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhằm kiểm soát Internet đã bị thất bại, giống như "việc gắn miếng thạch lên tường". Hoá ra vị cựu tổng thống này đã đúng, nhưng không phải theo cách mà ông đã nghĩ. Còn lâu mới là chiếc băng tải cho các giá trị dân chủ của phương Tây, Internet ở Trung Quốc phần lớn làm điều ngược lại. "Bức tường lửa vĩ đại" rất có nhiều hiệu quả trong việc ngăn cản hay ít nhất là lọc bớt những tư tưởng của phương Tây. Tuy nhiên, đằng sau bức tường lửa, các cư dân mạng theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan được tự do hơn rất nhiều.

Đảng Cộng sản Trung Quốc thường tự phủ lên mình chiếc áo choàng chủ nghĩa dân tộc nhằm đảm bảo sự ủng hộ của dân chúng và thổi phồng câu chuyện kể đầy sức mạnh về việc Trung Quốc bị phương Tây làm nhục trong lịch sử. Ngay cả các lời đề nghị đầu tư nước ngoài bình thường đôi khi cũng được so sánh với " 8 nước liên minh" đã xâm lược và chiếm đóng Bắc Kinh vào năm 1900. Nhưng khi các quan điểm như vậy nổi lên đầy trên Internet, chính quyền thường xoay xở một cách khéo léo để hướng chúng vào những mục đích của chính mình, như khi Bắc Kinh sử dụng sự bùng nổ quan điểm chống Nhật Bản trên mạng để gây áp lực với Tokyo sau khi thuyền trưởng một tàu đánh cá của Trung Quốc bị bắt giữ trong lãnh hải của Nhật Bản. Các chiến thuật đe doạ như vậy có thể không có ích cho hình ảnh của Trung Quốc ở bên ngoài, nhưng chúng tăng cường sự ủng hộ đối với đảng ở trong nước, mà phương tiện truyền thông nhà nước hăng hái miêu tả là chống lại các thế lực nước ngoài.
 
Thông qua Ban Tuyên truyền của mình, đảng sử dụng một loạt chiến thuật thường là sáng tạo nhằm đảm bảo rằng tiếng nói của họ chi phối mạng Internet. Không chỉ mỗi địa phương có các cảnh sát Internet được đào tạo đặc biệt của chính mình để ngăn chặn những vụ gây rối trong công chúng, ban này còn giám sát một hệ thống trả những khoản tiền mặt nho nhỏ cho các cư dân mạng, những người đăng tải các lời bình luận ủng hộ chính quyền lên các trang thông tin và các nhóm thảo luận trên Internet. Hơn nữa, các cổng Internet quốc gia chi phối hiểu rằng các mô hình kinh doanh sinh lợi của họ phụ thuộc vào việc loại bỏ nội dung chống đối ra khỏi trang web của họ. Nếu họ nhất quyết coi thường luật lệ, thì đơn giản là họ có thể bị đóng cửa.

4-  " Các nước khác muốn đi theo mô hình của Trung Quốc"

Chúc may mắn. Dĩ nhiên là nhiều nước đang phát triển ganh tỵ với sự nổi lên của Trung Quốc. Đất nước nghèo nào lại không muốn có một tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 10% và một sự đảm bảo rằng ông hay bà ta trong khi đó sẽ tiếp tục nắm quyền trong một thời gian dài? Không còn nghi ngờ gì nữa là Trung Quốc có các bài học quan trọng dạy cho các nước khác về làm thế nào để quản lý sự phát triển, từ việc điều chỉnh các cuộc cải cách bằng cách thử nghiệm chúng ở các khu vực khác nhau của đất nước đến việc quản lý sự đô thị hoá để các thành phố lớn không bị tràn ngập bởi các khu ổ chuột và các khu nhà ở nghèo nàn xập xệ.

Hơn nữa, Trung Quốc thực hiện việc này trong khi rõ ràng là coi thường lời khuyên của Tây phương, sử dụng cơ chế thị trường mà không bị cám dỗ bởi mỗi sự mê hoặc nhỏ bé của nó. Trong nhiều năm, các chủ ngân hàng nước ngoài lặn lội đến Bắc Kinh để rao giảng về tự do hoá về tài chính, kêu gọi các quan chức của Trung Quốc thả nổi đồng nội tệ của họ và mở tài khoản vốn của họ. Ai có thể khiển trách các nhà lãnh đạo Trung Quốc vì đã nhận thấy tính tư lợi rành rành trong một lời khuyên như vậy và từ chối nó? Sự thành công của Trung Quốc dẫn đến khái niệm hợp thời về một "Sự đồng thuận Bắc Kinh" mới tránh sự áp đặt các thị trường tự do và chế độ dân chủ đã là các dấu hiệu của "Sự đồng thuận Washington" cũ hơn. Trong hoàn cảnh của nó, Sự đồng thuận Bắc Kinh được cho là đưa ra nguyên lý kinh tế thực dụng và chính trị độc đoán theo mệnh lệnh.

Nhưng nhìn cận cảnh hơn vào mô hình Trung Quốc, và rõ ràng là nó không dễ để bắt chước. Hầu hết các nước đang phát triển không có bề dày và truyền thống quan liêu như của Trung Quốc, họ cũng không có khả năng huy động các nguồn lực và kiểm soát nhân lực theo cách mà cơ cấu đảng của Trung Quốc cho phép. Liệu Cộng hoà Dân chủ Congo có thể thiết lập và quản lý hay không một Ban Tổ chức? Chủ nghĩa độc đoán của Trung Quốc có hiệu quả bởi vì nó có các nguồn lực của đảng hậu thuẫn.

5 - "Đảng không thể cầm quyền mãi mãi"

Có, đảng có thể. Hay ít nhất là trong một tương lai có thể dự đoán được. Không như ở Đài Loan và Hàn Quốc, tầng lớp trung lưu của Trung Quốc không nổi lên với bất cứ một đòi hỏi rõ ràng về một chế độ dân chủ theo kiểu phương Tây. Có một số lý do hiển nhiên giải thích tại sao. Cả ba láng giềng châu Á của Trung Quốc, kể cả Nhật Bản, đã trở thành các chế độ dân chủ tại các thời điểm khác nhau và trong những bối cảnh khác nhau. Nhưng tất cả họ đều được sự bảo trợ một cách hiệu quả của Mỹ, và Washington đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy thông qua sự thay đổi dân chủ hay thể chế hoá nó. Chẳng hạn, quyết định của Nam Hàn tuyên bố tiến hành bầu cử trước Thế vận hội Olympic Séoul năm 1988 là do áp lực trực tiếp của Mỹ. Nhật Bản và Nam Hàn cũng là những xã hội nhỏ hơn và đồng nhất hơn, không có tầm với lục địa rộng lớn như Trung Quốc với vô số dân tộc và nhóm sắc tộc xung đột. Và không cần phải nói rằng không một quốc gia nào trong số họ trải qua một cuộc cách mạng cộng sản mà nguyên tắc sáng lập của nó là đánh đuổi quân đế quốc ngoại bang ra khỏi đất nước.

Tầng lớp trung lưu thành thị của Trung Quốc có thể mong muốn được hưởng nhiều quyền tự do chính trị hơn, nhưng họ không dám đồng loạt đứng lên chống lại nhà nước bởi vì họ sẽ mất quá nhiều thứ. Trong 3 thập kỷ qua, đảng đã ban hành hàng loạt cuộc cải cách kinh tế, ngay cả khi nó đàn áp sự chống đối. Quyền tự do tiêu dùng – dưới hình thái những chiếc xe ôtô, bất động sản, hay những siêu thị đầy ắp hàng hoá – hấp dẫn hơn rất nhiều những khái niệm mơ hồ về chế độ dân chủ, đặc biệt là khi các cá nhân thúc bách đòi cải cách chính trị có thể mất đi kế sinh nhai và thậm chí là cả quyền tự do của mình. Cái giá của việc chống lại đảng thì quá cao. Do đó, các ổ gây náo động trong những năm gần đây phần lớn là ở các khu vực nông thôn, nơi sinh sống của những người nghèo nhất của Trung Quốc được đầu tư ít nhất trong sự phát triển kinh tế thần kỳ của đất nước. "Người lao động toàn thế giới hãy đoàn kết! Các bạn chẳng có gì để mất ngoài những văn tự cầm cố của các bạn" không còn là một khẩu hiệu cách mạng.

Tất cả những điều này là lý do giải thích tại sao một số nhà phân tích nhìn nhận những sự chia rẽ trong nội bộ đảng là một phương tiện có khả năng hơn cho sự thay đổi về mặt chính trị. Giống như bất cứ tổ chức chính trị lớn nào, Đảng Cộng sản Trung Quốc bị chia bè phái theo nhiều thành phần, từ các lãnh địa địa phương (tiêu biểu trên sân khấu quốc gia là phe nhóm Thượng Hải dưới thời nguyên Chủ tịch Giang Trạch Dân) đến các mạng lưới nội bộ đảng (như các cán bộ cấp cao có mối quan hệ chặt chẽ với Đoàn Thanh niên Cộng sản thông qua người kế thừa Giang Trạch Dân – Hồ Cẩm Đào). Cũng có những tranh cãi chính sách rõ rệt về mọi phương diện từ nhịp độ thích đáng của tự do hoá chính trị đến việc mở rộng vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế.

Nhưng việc làm nổi bật những điểm khác biệt này có thể che khuất một thực trạng lớn hơn. Kể từ năm 1989, khi đảng bị chia rẽ ở thành phần lãnh đạo tối cao và gần như bị tan vỡ, nguyên tắc cơ bản là không có sự chia rẽ công khai trong Bộ Chính trị. Ngày nay, sự hợp tác cấp cao nhất đã trở thành một tiêu chuẩn cũng như việc làm suy yếu sự cạnh tranh phe phái. Tập Cận Bình, người thừa kế tương lai, đang chuẩn bị lên nắm quyền tại đại hội đảng sắp tới vào năm 2012. Giả sử người có khả năng sẽ đóng vai phó của ông, Lý Khắc Cường, sẽ tiếp theo ông với nhiệm kỳ thông thường 5 năm, giới lãnh đạo tối cao của Trung Quốc dường như được sắp đặt cho tới năm 2022. Người Trung Quốc, ngày càng có vẻ coi thường Mỹ.

Ý tưởng rằng một ngày nào đó Trung Quốc sẽ trở thành một chế độ dân chủ luôn là một quan điểm của Tây phương, nảy sinh từ các luận thuyết của chúng ta về các hệ thống chính trị tiến triển như thế nào. Tuy nhiên, cho đến nay mọi bằng chứng cho thấy rằng các luận thuyết này là sai lầm. Đảng Cộng sản Trung Quốc có ý như những gì họ nói: họ không muốn Trung Quốc trở thành một Chế độ Dân chủ Tây Phương – và dường như họ có mọi công cụ cần thiết để đảm bảo rằng Trung Quốc không trở thành như vậy./.

Xâu chuỗi Ngọc trai: Cuộc chiến tranh Á châu giữa Ấn Độ - Trung Cộng chuẩn bị khai mào

Xâu chuỗi Ngọc trai: Cuộc chiến tranh Á châu giữa Ấn Độ - Trung Cộng chuẩn bị khai mào

Anh-Huy


Hai Đại Cường Quốc Trung Cộng & Ấn Độ.

Sự phát-triển kinh-tế vượt bực,kèm theo sự bành-trướng quân-sự hiện-đại một cách hùng-hậu trong hai thập-niên vừa qua ( 1990-2010 )đả đưa Trung-Cộng và Ấn-Độ lên hàng Đại-Cường Quốc khu-vực Viển-Đông và Nam-Á .

Cạnh-tranh kinh-tế,chạy đua quân-sự,thế lực đôi bên càng xung-hãn,một cuộc xung -đột trầm-trọng qua nhiều mặt thế nào cũng xảy ra không tránh được.

Vào năm 1947 Ấn-Độ dành lại Độc-lập,kế đến năm 1949 sau cuộc chiến Quốc cộng, CS Trung-Hoa gồm thâu Hoa-lục, thành lập nước CHND Trung-Quốc.

Đầu thập-niên 1950 Hoa Ấn rất thân thiện nhau , hai quốc-gia hợp cùng một số quốc-gia vừa mới Độc-lập vận-động Phong-trào Phi Liên-kết,kêu gọi Sống-chung Hòa-bình,hô-hào thành-lậpThế-giới Thứ 3 ( trong lúc Chiến -tranh Lạnh phát khởi giửa Thế-giới Cộng-sản Liên-sô và Thế-giới Tự-do Hoa-kỳ ) .


Chiến-tranh Triều-Tiên 1953 và Chiến-tranh Đông-Dương 1954, Trung-Cộng hiện thân tham vọng Cộng-Sản,chủ trương Đông-Phương Hồng ồn ào và hùng hổ hơn cả Liên-Sô,tham gia trực tiếp và gián tiếp cả hai cuộc chiến.

Trong nước,chế-độ độc tài đảng trị sắt máu,chủ nghỉa Cộng-Sản chuyên chế trấn áp nhân dân bằng bạo lực...

Đối ngoại, hô hào "Đập chết Con Cọp Giấy Mỹ ". Tác động và bảo trợ các Tổ chức CS trong những nước Láng Giềng nhằm lật đổ Chính-quyền thân Tây phương. Thực hiện mưu đồ CS hóa trên toàn vùng Viển-Đông;Đông-Nam Á và Nam-Á .

Cuộc Đấu-tranh Bất Bạo-Động qua sự lảnh đạo của Thánh Gandhi và Đảng Quốc-Đại, Ấn-Độ đả dành lại Độc-Lập.

Thủ-tướng Nerhu thực thi Chế-độ Đại-nghị cho Quốc-Gia mình Dân-chủ Tự-do như Âu-Mỹ.

Thi hành Kế hoạch Ngũ niên Canh-tân Đất nước và Cải-tiến Xả-hội...

Đối ngoại, Ấn-Độ chủ trương Trung-lập trong thời Chiến-tranh Lạnh. Không chen vào nội bộ những nước Láng Giềng, cổ súy phong trào Phi Liên-Kết và tha thiết sự thành hình Thế-giới Thứ 3 .

Vấn đề Pakistan ; Cachemire và Sikkim cho thấy hai Quốc-gia có sự bất hòa.


Sau hội nghị Bandung 04/1955 ( Indonesia ) lập trường hai nước càng mâu thuẩn rỏ rệt và tiến dần đến đối nghịch nhau.

Vào năm 1959, Trung-Cộng dùng bạo lực cưỡng chiếm Tây-Tạng. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma bôn đào, vượt Hy-Mã-Lạp Sơn đến Ấn-Độ.

Kế tiếp hằng trăm ngàn người Tây-Tạng không chấp nhận sự thống trị của Trung-Cộng, cùng vượt núi non hiểm trở đến Ấn-Độ tỵ nạn.

Bang giao hai nước trở nên căng thẳng , mức độ nghiêm trọng càng  gia tăng...

Năm 1962, Trung-Cộng xua quân tấn công chiếm lỉnh vài vùng biên giới của Ấn-Độ ...

Cuộc xung đột xảy ra rất ngắn ngủi nhưng hai nước trở thành thù nghịch và cắt đứt bang giao gần hai thập niên.

Khoảng hai thập niên gần đây, quan hệ ngoại giao được cải thiện, tình hình căng thẳng biên giới lắng dịu nhưng sự thân hữu không còn như xưa.


Giờ đây,  Trung-Cộng và Ấn-Độ đều là Đại Cường-Quốc Kinh-Tế và Nguyên-Tử.

Vị trí Địa-lý Chính-trị của Trung-Cộng khống-chế vùng Trung-Á và Viển-đông với một  lực lượng quân sự như sau :

Ngân sách Quốc phòng tăng dần :

Năm 2008 : 60,1 Tỷ Đô la

Năm 2009 : 70,3 Tỷ Đô la

Năm 2010 : 77,8 Tỷ Đô la

Quân đội gồm 2.285 000 lính ( quân dịch 2 năm ).

Bộ binh :1.600 000  ( 800 000 lính quân dịch ) trang bị súng ống hỏa lực hiện đại kèm theo 6550 Thiết giáp đủ loại.

Hải quân : 255 000 ( 40 000 lính quân dịch ) với 65 Tiềm Thủy Đỉnh trong đó có 7 Tiềm Thủy Đỉnh trang bị Hỏa tiển, tấn công bằng đầu đạn nguyên tử.

28 Khu Trục Hạm, 52 Hộ Tống Hạm.

Không quân : 300 000 lính với 1600 Chiến Đấu Cơ đủ loại.

Lực Lượng Chiến Lược với vũ khí Nguyên tử gồm 100 000 lính.

Lực lượng dự bị khoảng chừng 510 000 lính.


Vị trí Địa-lý Chính-trị của Ấn Độ án ngử vùng Nam Á và Ấn Độ Dương

( con đường hàng hải vận chuyển dầu lửa và hàng hóa nối liền Trung-đông ; Đông-nam Á và Viển-đông ) với một lực lượng quân sự như sau :

Ngân sách Quốc Phòng tăng dần :

Năm 2008 : 28,39 Tỷ Đô la.

Năm 2009 : 35,88 Tỷ Đô la

Chi tiêu về Quốc phòng thực sự vào năm 2008 là 31,54 Tỷ Đô la.

Quân đội gồm 1.325 000 lính hổn hợp ( đa số tình nguyện )

Bộ binh : 1.129 900 lính trang bị súng ống hỏa lực hiện đại kèm theo 4047 Thiết giáp đủ loại.

Hải quân : 58 350 lính và 9950 lính biên hải với 16 Tiềm Thủy Đỉnh trang bị hỏa tiển tấn công bằng đầu đạn nguyên tử; 1 Hàng Không Mẫu Hạm; 8 Khu

Trục Hạm và 12 Hộ Tống Hạm.

Không quân : 127 200 lính với  632 Chiến Đấu Cơ đủ loại

Lực lượng chiến lược với vũ khí nguyên tử bảo mật.

Lực lượng dự bị : 1.155 000 lính.

Vào năm 1990 / 91 Liên Sô phá sản và sụp đổ sau khi chịu đựng cuộc chiếntranh lạnh với Hoa Kỳ dần dai gần 45 năm.

Mất thế dựa Liên Sô, CSVN quay qua cầu lụy và lệ thuộc Trung Cộng. Ảnh hưởng Trung Cộng lan rộng khắp vùng Đông Nam Á và xâm nhập vào vùngNam Á.

Ấn Độ đã từng ký Hiệp Ước Bất Tương Xâm với Liên Sô trong thời chiến tranh Lạnh. Liện Sô tan vỡ, Ấn Độ liền bắt tay thân thiện với Hoa Kỳ,  Liên Âu vàNhật Bản đồng thời hợp tác ngầm với cả Do Thái đã tạo điều kiện để Ấn Độtrở thành một đối thủ cân xứng với Trung Cộng về mọi mặt


" Xâu chuỗi Ngọc trai " của Trung Cộng

Chiến lược liên hợp của Hoa Kỳ và Ấn Độ đã làm cho Trung Cộng lo ngại. Từ nhiều năm qua.Trung Cộng thiết kế xây đựng và đã hoàn thành một hệ thống căn cứ Quân sự Hãi quân hùng mạnh từ cửa biển Hồng hải băng qua  Ấn Độ Dương bọc hết vùng Vịnh Bengale xuyên qua eo biển Malacca cho đến Vịnh Xiêm la .

Hệ thống căn cứ Hải quân Trung Cộng này được gọi là   Xâu chuỗi Ngọc traigồm  6 viên Ngọc trai :

1- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Gwadar / Pakistan.

2- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Marao / Maldives.

3- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Hambantota / Sri Lanka.

4- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Chittagong / Bangladesh.

5- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Iles Cocos/ Birmanie.

6- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Sihanoukville / Cambodge.


Xây dựng và thực hiện được " Xâu chuỗi Ngọc trai  ", Trung cộng đã viện trợquân sự, kinh tế, tài chính và kỷ thuật cho 6 quốc gia sở tại : Pakistan, Maldives,Sri Lanka,  Bangladesh, Birmanie và Cambodge.


" Xâu chuỗi Ngọc trai " rõ ràng là Trung Cộng giăng chặt màng lưới Hải quân bao vây Ấn Độ toàn bộ phía Nam. Trong khi lực lượng Bộ binh ước lượng trên100.000  người, trang bị vũ khí hiện đại án ngữ vùng biên giới dài 4057 Km phía bắc Hy Mã Lạp Sơn, sẳn sàng khai hỏa tấn công Ấn Độ.

Mặt khác, " Xâu chuỗi Ngọc trai " cũng là kế hoạch bảo vệ con đường hàng hải nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ.

Sự kiện hai viên Ngọc trai Hambantota / Sri Lanka và Chittagong / Bangladesh rơi vào tay Trung Cộng là điều Ấn Độ không chấp nhận được.

Bangladesh ( Đông Hồi ) độc lập vào năm 1971, thoát khỏi vòng kềm tỏa của Pakistan ( Tây Hồi ) do sự hổ trợ quân sự của Ấn Độ.

Từ lâu, ảnh hưởng của Ấn Độ rất sâu đậm vào nội tình chính trị của Bangladesh, không thể nào bất động trước mủi dao Chittagong dí vào hông, bằng bất cứ giánào Ấn Độ cũng sẽ phải tìm phương cách hóa giải.

Sri Lanka từ khi độc lập vào năm 1948 chịu ảnh hưởng Ấn Độ. Trong cuộc nộichiến giữa dân Tamoul 25% và dân Cinghalais 75%, chính quyền Ấn Độ  trung ương chủ trương hòa giải sống chung. Mặt dù, tiểu bang Tamoul Nadu ngăn cáchSri Lanka bởi một eo biển 30 Km luôn luôn ủng hộ giải pháp thành lập một nướcTamoul độc lập tách rời Sri Lanka.

Lợi dụng đường lối chính trị giữa chính quyền Liên bang Ấn Độ và Tiểu bang Tamoul Nadu mâu thuẩn, Trung Cộng chen vào viện trợ quân sự tài chính giúp chính quyền Cinghalais đánh tan lực lượng " Cọp Tamoul Tự do ", đổi lại SriLanka thỏa thuận  cho Trung Cộng xây dựng căn cứ Hải quân Hambantota đâmthẳng vào cực nam của Ấn Độ.

Căn cứ Hải quân Hambantota  là yếu huyệt kiểm soát con đường hàng hải chuyển vận mậu dịch từ Âu châu - Á Rập sang Viễn đông-Đông Nam Á - ÚcChâu và ngược lại.

Từ căn cứ Hambantota, Trung Cộng có thể kiểm soát Ấn Độ Dương !"Xâu chuỗi Ngọc trai"của Trung Cộng chính là dây thòng lọng thắt cổ Ấn Độ.7516 km bờ biển cùng 1197 ốc đảo, quần đảo bao quanh Tiểu lục địa Ấn Độ rơi vòng kiểm soát của Trung Cộng.

95% hàng hóa xuất cảng của Ấn Độ cũng như 70% nguyên liệu dầu thô, khí đốtnhập cảng đều vận chuyển bằng con đường hàng hải ngang qua  " Xâu chuỗi Ngọc trai " của Trung Cộng.

Trong 5 năm tới, khi Trung Cộng hoàn tất công trình xây dựng 3 Hàng KhôngMẫu Hạm xong. Sáu căn cứ quân sự Hải Quân này chính là những cứ điểm để Hải Quân Trung Cộng diệu  võ dương oai và hoành hành trên toàn  vùng Viễn động, Đông Nam Á / Thái Bình Dương và Nam Á / Ấn Độ Dương.

Ấn Độ đối đầu với " Xâu chuỗi Ngọc trai "Sự hợp tác tăng cường quân sự giữa Việt Nam Cộng Sản và Ấn Độ nhất là trênbình diện hải quân, cũng như việc chọn Cam Ranh và Hải Phòng là 2 căn cứ tiếp liệu cho Hải quân  Ấn Độ, đồng thời Ấn Độ canh tân căn cứ Hải quân Blair trênquần đảo Andaman thuộc Ấn Độ nằm giữa vịnh Bengale, hiện đại hóa lực lượngHải quân, kiện toàn hệ thống phòng thủ toàn vùng duyên hải 7516 Km đều nằm trong chiến lược của Ấn Độ đối đầu lại "Xâu chuỗi Ngọc trai" của Trung Cộng .Mặt khác, chính lược và chiến lược toàn cầu  mỗi Siêu cường mỗi khác :- Hoa Kỳ muốn Thế giới đơn cực nhưng Á châu đa cực.- Trung Cộng chủ trương một Thế giới đa cực nhưng Á châu đơn cực.- Còn Ấn Độ, Nhật Bản, Nga Sô và Việt Nam Cộng Sản muốn Châu Á đa cực  và một Thế giới cũng đa cực.

Sự mâu thuẩn đó chính là mầm mống sẽ tạo nên chiến tranh tại Á Châu, điểmcực nóng chính là toàn vùng Đông Nam Á.


Anh-Huy

Paris 19.10 .2010


Phụ chú :


Lực lượng Quân sự Hoa Kỳ ( bao trùm Thế giới )

Ngân sách Quốc phòng :- 2008 : 696,3 Tỷ Dôla- 2009 : 693,6 Tỷ Đôla- 2010 : 692,78 Tỷ Đôla

Quân nhân tại ngũ : 1.580 255Lục quân : 662 232 với 5850

Chiến xa đủ loại.Hải quân : 335 822 với 71

Tiềm Thủy Đỉnh Nguyên tửtrong đó đặc biệt 14 chiếc trang bị hỏa tiển " balistiques " đầu đạn nguyên tử.11

Hàng Không Mẫu Hạm hiện đại ; 22

Tuần Dương Hạm hiện đại  ; 56

Khu Trục Hạm hiện đại ; 22

Hộ Tống Hạm hiện đại .Không quân : 334 342 với 2708

Chiến Đấu Cơ đủ loại.Thủy Quân Lục Chiến : 204 261 với 403

Chiến Xa và 371

Phi Cơ đủ loại

Phòng ngự duyên hải : 43596

Lực lượng dự bị : 864 547

Ngoài ra còn nhiều lực lượng đặc biệt bảo mật.


Lực lượng Quân sự Việt Nam Cộng Sản :

Ngân sách Quốc Phòng :- 2008 : 2,90 Tỷ Đôla- 2009 : 2,80 Tỷ Đôla

Quân đội tại ngũ : 455 000 ( chế độ quân dịch từ 24 đến 36 tháng phục vụ )

Bộ đội : 412 000 với 1315

Chiến Xa.Hải quân : 13 000 với 2

Tiềm Thủy Đỉnh và  5

Hộ Tống Hạm.Không quân : độ chừng 30 000 với 219

Chiến Đấu Cơ.Lực lượng dự bị : 5 000 000 .


( Căn cứ theo tài liệu Bilan Géostratégie - Le Monde 2010 )