02 September 2011

Đòi dân chủ cần minh bạch, công khai

Đòi dân chủ cần minh bạch, công khai

Ngô Nhân Dụng

Trong cuốn tiểu thuyết Đói (Sult) ấn hành năm 1899 nhà văn Knut Hamsun người Na Uy thuật một cảnh hai người đồng lõa nói dối lẫn nhau. Nhân vật chính là một nhà báo trẻ đang không có việc làm thường xuyên; lại mới bị đuổi nhà vì không trả tiền thuê. Ngồi trong công viên anh, anh gặp một ông già ôm tờ báo cũ đến ngồi kế bên. Ông ta hỏi anh ta ở đâu. Không ai muốn tự giới thiệu mình vô gia cư, anh bịa ra một địa chỉ: Số 2, Khu Saint Olav. Trò chơi nói dối giữa hai người bắt đầu một cách vô hại như vậy.

- Số 2 hả? Ồ, tôi biết tất cả mọi người ở cái nhà đó. Này, cái anh chủ nhà tên là gì nhỉ?

- Happolati, anh ta lại bịa đại ra.

- À, cái thằng Happolati ấy!

Nhân vật kể chuyện tìm cách nói lảng sang chuyện khác nhưng ông già không tha, hỏi tiếp:
- Happolati, cha đó đi biển phải không nhỉ?

- Không, thằng em anh ấy mới đi biển. Anh này tên là Johann Arendt Happolati!

- Nghe tay đó giỏi lắm phải không?

Cuộc đối thoại toàn bịa đặt cứ thế tiếp tục, người kể chuyện khoe anh Happolati là một đại gia, buôn bán đủ thứ hàng, hàng da, giấy, lông vịt làm áo lạnh, mua từ bên Tầu, bên Nga, vân vân. Happolati còn sáng chế ra một loại máy điện để đọc được Kinh Thánh nữa. Có hồi anh ta làm đại sứ ở nước Ba Tư. Còn cô con gái anh ta thật đẹp mĩ miều, cô Ylajali, đẹp như một nàng công chúa. Còn bà vợ hắn thì béo ơi là béo. Ông già muốn chứng tỏ mình biết chuyện, góp thêm chi tiết:
-Cái anh Happolati này làm chủ nhiều nhà cửa lắm, tôi nghe nói vậy.

- Không, tôi không biết.

Hai người hào hứng trao đổi với nhau toàn những điều bịa đặt. Họ đồng lõa trong cuộc chơi giả dối này. Nhà báo thất nghiệp bịa một chuyện gì lại được ông già phụ họa. Cho tới lúc nhân vật chính chán quá, anh nói thẳng: Này, nói thật với ông, tôi bịa đấy! Toàn chuyện bịa cả. Cả ông nữa, ông cũng làm như cái thằng Happolati là có thật nữa! Tôi không quen bịa đặt dối trá như vậy bao giờ. Tôi chán lắm rồi!

Nói dối mãi chắc có lúc ai cũng thấy chán, dù chỉ là những lời nói dối vô hại. Nhưng nếu người ta phải tập nói dối mỗi ngày, ngày nào cũng nói đi nói lại những điều không có thật, những điều chính mình cũng không tin, thì chắc sống như vậy chán lắm! Vậy mà trên thế giới có những người phải nói dối suốt đời!

Một chế độ độc tài dựa trên một bộ máy đàn áp, nhưng luôn luôn phải có thêm một bộ máy dối trá đi kèm. Không những nhà nước nói dối, người dân cũng phải tập thói quen nói dối cho phù hợp, dễ sống trong chế độ. Dối trá trở thành một tập quán, một nét văn hóa đặc thù! Cứ như vậy, hai bên nhà nước và nhân dân đồng lõa nói dối lẫn nhau.

Nhiều người sống ở trong nước Việt Nam tới bây giờ mỗi ngày vẫn phải vừa sống vừa nói dối kiểu đó. Nhất là các nhà báo, các chuyên viên ngành truyền thông! Không nói dối không được! Ngay cả những người muốn xã hội sống thật hơn, sống lành hơn, đạo đức hơn, những người đang yêu cầu chế độ cộng sản phải thay đổi, có khi ra trước công chúng họ cũng phải đóng trò, không nói hết sự thật. Không phải họ nói xạo cho được yên thân, mà họ thành thật nghĩ rằng cần nói tránh, nói lảng, không nói hết các ý nghĩ của mình thì cuộc đấu tranh mới có hiệu quả.

Gần đây khi các nhà trí thức và giới thanh niên ở Hà Nội và Sài Gòn đi biểu tình, họ phải nhắc đi nhắc lại, là họ không đòi chế độ thay đổi đường lối cai trị dân. Trước sau, chỉ hô một khẩu hiệu là phản đối chính sách xâm lược của chính quyền Trung Quốc mà thôi. Để khỏi bị đưa ra tòa buộc tội âm mưu lật đổ chế độ! Trong khi đó, ai cũng biết nhu cầu thật của nước ta là chế độ cần thay đổi một cách toàn diện; để tiến lên cho bằng thế giới chung quanh!

Làm cách nào chúng ta có thể chống một nước lớn đang lấn áp nước mình trong khi những người câm quyền của nước mình cư xử rụt rè, yếu ớt, nhu nhược? Ngay cả khi tầu chiến của Trung Cộng đâm chìm tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam, báo đài nhà nước cũng chỉ gọi đó là những "tầu lạ!" Không được phép gọi tên thật ra! Báo chí của Nhà nước nói dối và dậy dân cách nói dối. Người dân chỉ dám thì thầm bảo nhau: Tầu lạ, tầu quen, tầu nào cũng là Tầu cả! Nhưng chỉ nói thì thầm thôi!

Muốn chấm dứt cảnh nước ta bị nước "đồng chí anh em" lấn áp thì đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chính sách đối ngoại. Nếu không, thì người dân phải thay đổi những người đang cầm quyền. Những cuộc biểu tình gần đây không dám nói thẳng sự thật đó. Muốn có chính sách đối ngoại mới thì phải cho người dân được quyền lên tiếng trước vấn đề trọng đại này. Nghĩa là người dân phải có quyền tụ họp, phải có quyền biểu tình và lên tiếng nói để bầy tỏ thái độ. Tóm lại, là đòi cho người dân Việt Nam có những quyền công dân căn bản: Tự do hội họp và tự do phát biểu!

Chúng ta có thể hiểu rằng trong thâm tâm, những người đi biểu tình đều biết rằng nhu cầu lớn nhất của dân tộc Việt Nam là tự do dân chủ. Điều số 2 trong hiến pháp hiện hành viết: "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân …" Chỉ khi nào người dân Việt Nam được tự do bỏ phiếu chọn người lãnh đạo nước mình, thì những người cai trị mới thực sự chịu trách nhiệm với dân, phải lắng nghe ý kiến của dân. Chính sách đối ngoại hiện nay chỉ do một nhóm người độc quyền quyết định. Chính sách đó thất bại, chúng ta đã thấy từ dân chài lưới đến tầu nghiên cứu của Việt Nam vẫn bị tấn công, hải phận Việt Nam vẫn bị xâm chiếm. Đã đến lúc người Việt Nam không thể chỉ hô hào đả kích người cầm quyền bên Trung Quốc không thôi. Phải đòi hỏi chế độ chính trị ở Việt Nam thay đổi hoàn toàn, để nhà nước thực sự phản ảnh ý nguyện của người dân.

Giới trí thức và thanh niên, sinh viên Hà Nội đã biểu tình trong hai tháng qua đã nhẫn nhục tự giới hạn mục tiêu đấu tranh của mình. Không ai nói đến mục tiêu quan trọng hơn việc đả kích Trung Quốc, không ai nói đến điều kiện tiên quyết để thay đổi chính sách đối ngoại, là người dân Việt Nam phải có quyền tự do quyết định vận mệnh nước Việt Nam!

Cuối cùng, thì mặc dù những người đi biểu tình hết sức nhẫn nhục, họ vẫn bị đàn áp, bị bắt bớ! Họ vẫn bị vu cáo tội "tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, … tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị," theo thông cáo của chính quyền thành phố Hà Nội! Nghĩa là người ta vẫn đe dọa dân, họ vẫn không công nhận người dân có quyền yêu nước … nhiều hơn Bộ Chính trị đảng Cộng sản!

Cuối tuần qua, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo Sư Chu Hảo, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện đã gặp gỡ các người cầm quyền tại thành phố Hà Nội để "làm việc." Cuộc trò chuyện diễn ra gần ba tiếng đồng hồ, nhưng bản tin của blog Nguyễn Xuân Diện chỉ tường thuật ông này nói, rồi ông kia nói, mô tả đến chi tiết trước mặt mỗi người "đều có 1 đĩa nhỏ có 1 chùm nho và 2 chiếc bánh ngọt và một ly nước trà xanh liên tục được chế thêm nước nóng" nhưng không hề cho độc giả biết hai bên đã nói những chuyện gì cụ thể! Không nhắc đến nhu cầu tư do dân chủ của người dân mà chỉ nhắc nhở "vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ" mà không nói rõ bất đồng ý kiến như thế nào.

Tất nhiên, những người họp mặt có thể đã đồng ý với nhau không tiết lộ những chi tiết về nội dung tranh luận, cho nên không kể hết. Nhưng, dù rất kính trọng quý vị đã đi họp, chúng ta cũng phải tự hỏi: Giữ im lặng như vậy để làm gì? Các cuộc biểu tình trong hai tháng qua là những hành động công khai, mục tiêu được minh bạch nêu lên trước cả thế giới. Có gì mà không dám nói thật, nói thẳng hết ra? Cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, quý ông Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Diện, đang mặc nhiên làm đại diện của một phong trào quần chúng. Người bi quan có thể lo ngại rằng khi giữ im lặng như vậy, quý vị đã "mắc mưu cộng sản!"

Đảng Cộng sản đang biến những cuộc biểu tình vì lòng yêu nước của hàng ngàn người dân thành một cuộc thảo luận giữa một nhóm nhà trí thức với chính quyền thành phố; mà lại thảo luận trong vòng bí mật! Họ cố ý biến những cuộc biểu tình mang tính chất toàn dân, toàn quốc, thành một biến cố địa phương trong thẩm quyền của một thành phố. Họ có thể đánh lạc hướng dư luận. Thay vì đặt ra vấn đề các quyền tự do căn bản của người dân, như quyền tự do hội họp, tự do phát biểu, họ sẽ dùng guồng máy tuyên truyền biến chúng thành một cuộc tranh luận có tính cách kỹ thuật về việc áp dụng Nghị định số 38/2005/NĐ-CP của ông Nguyễn Tấn Dũng!

Luật sư Nguyễn Văn Đài đã khẳng định: "Quyền biểu tình là vũ khí đấu tranh mạnh nhất và cuối cùng của nhân dân khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm sau khi tất cả các biện pháp giải quyết bằng thủ tục pháp lý khác không mang lại kết quả hài lòng cho nhân dân. Bởi ý nghĩa to lớn của quyền biểu tình và quyền biểu tình là quyền Hiến định nên nó không bị hạn chế bởi qui định của các văn bản dưới luật."

Điều nguy hiểm là khi chọn lựa sự im lặng, không tường thuật đầy đủ và công khai các cuộc thảo luận với chính quyền, chúng ta đã bước vào đúng con đường mà đảng Cộng sản muốn chọn. Sức mạnh của những người dân đi biểu tình trong hai tháng qua là tính chất minh bạch, công khai. Tự tước bỏ tính minh bạch công khai là "tự tước vũ khí của mình!"

Trong lúc đó, một nhu cầu lớn của dân tộc Việt Nam bây giờ chính là Sự Thật. Nhân vật của Knut Hamsun (Giải Nobel 1920) đã tự ý chấm dứt trò chơi bịa đặt, dối trá của anh ta, vì chán quá. Cả nước Việt Nam bây giờ cũng cần làm như vậy, vì lý do quan trọng hơn: Sống xứng đáng với phẩm giá con người. Cần nói sự thật: Chúng tôi muốn người dân Việt có quyền tham dự vào những quyết định lớn của quốc gia. Chúng tôi không chấp nhận để cho một nhóm người quyết định tất cả mọi việc, trong vòng bí mật của họ! Chúng tôi muốn các quyền tự do dân chủ phải được thi hành thật sự. Chúng tôi chấm dứt, không muốn đóng trò nữa! Nhiều khi, im lặng cũng là đồng lõa che giấu sự thật!


Ngô Nhân Dụng

Tại sao kinh tế Việt Nam sẽ phải sụp đổ?

Tại sao kinh tế Việt Nam sẽ phải sụp đổ?

 

Lưu ý: bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, một thành viên trong nhóm, và không nhất thiết trùng khớp với quan điểm chung của nhóm biên tập.

Bài viết này nhằm nêu lên nguyên nhân gốc gây ra thực trạng khủng hoảng kinh tế Việt Nam hiện nay và cách giải quyết nó.

Cách đây 25 năm, khi đứng trước khủng hoảng kinh tế-xã hội toàn diện thì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải nhường bước cho các cải cách kinh tế thị trường, chuyển từ nền kinh tế quan liêu tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường được gắn thêm cái đuôi Xã Hội Chủ Nghĩa. Thực chất thì cái đuôi này chỉ là một cách thức để giữ vững sự tồn tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam khỏi sự đào thải của tiến trình lịch sử.

Trong 3 năm 1989, 1990, 1991, các cuộc cách mạng tại Đông Âu và Liên Xô cũ đã xóa bỏ hệ thống các nước Xã Hội Chủ Nghĩa tồn tại gần nửa thế kỷ tại Châu Âu. Tại đó, toàn xã hội trong đó có những Đảng viên Đảng Cộng Sản đã đồng lòng đập tan chính Nhà nước Cộng sản mà họ đã dựng lên cách đó gần nửa thế kỷ. Tất cả người dân tại Đông Âu và Nga đã bừng tỉnh rằng họ không thể tiếp tục duy trì một ý thức hệ không tưởng được nữa.

Kết quả của những cải cách kinh tế thị trường của Đảng Cộng Sản Việt Nam là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa được duy trì đến năm 2011 này. Tuy nhiên họ đang đối diện với một cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ hơn so với 25 năm trước kia khi cả thế giới chuẩn bị bước vào giai đoạn suy thoái kinh tế. Những cải cách kinh tế thị trường trước kia dường như đã phát huy hết tác dụng của nó.

Về mặt chính trị, họ vẫn nắm giữ độc quyền chính trị bằng cách xây dựng hệ thống an ninh, mật vụ dày đặc hòng bóp nghẹt mọi nguy cơ thay đổi chính trị có hại cho họ từ trong trứng nước. Họ đưa ra điều 4 hiến pháp để đảm bảo duy trì quyền lực lãnh đạo đất nước Việt Nam vĩnh viễn cho Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Thế nhưng, mọi cố gắng của họ đều vô ích. Đảng Cộng Sản Việt Nam đang cố gắng làm việc không thể làm, đó là cứu vãn một ý thức hệ ĐÃ bị văn minh nhân loại đào thải.

Họ cố gắng cai trị 90 triệu dân không thích họ, không phục họ, không cộng tác với họ.

Làm tôi nhớ lại bài học sinh vật trong đại học: Liệu Jurassic Park có thể nuôi sống khủng long, cho dù tái tạo được chúng?

Câu trả lời là KHÔNG.

Việc tái tạo genes tuy khó, nhưng theo lý thuyết có thể làm. Nhưng khủng long không đủ "khỏe" để tồn tại. Chúng ăn quá nhiều, cây cỏ không thể đủ cho chúng ăn.

Một Jurassic Park sẽ cần hàng triệu tấn cây cỏ hàng năm, đang khi chất thải ra từ các con khủng long sẽ quá nhiều, tự làm chúng bệnh mà chết.

Đừng thương xót chúng, chúng đã qua "thời oanh liệt", và bị đào thải do không thể tiến hóa đúng hướng, đó là thay vì nhỏ lại, thì chúng lớn ra và vụng về, cục mịch.

Chủ nghĩa Cộng Sản không khác, một thời từng là các con khủng long khổng lồ, máy bay Liên Xô lớn nhất thế giới, phi thuyền hiện đại nhất (vài năm đầu, từ Spunik), hùng mạnh nhất thế giới (Liên Xô, Trung Quốc đông dân hơn và nhiều vũ khí hơn NATO + Mỹ).

Nhưng Chủ nghĩa Cộng Sản không thể tiến hóa đúng hướng, mà như các con khủng long, nó không đủ "khỏe" để tồn tại.

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam giờ không thể còn cạnh tranh nổi với nền kinh tế thế giới. Gạo, cá, tôm, gia công giày dép, dệt vải làm sao đem lại nhiều ngoại tệ bằng những món hàng công nghệ kỹ thuật cao như máy ảnh, máy vi tính … Những món đồ tại Việt Nam làm ra đều có giá trị thấp, đơn giản, nặng về gia công, lao động mà thiếu đi chất xám, công nghệ. Chính vì vậy, Việt Nam chỉ được biết đến như một đất nước có nhân công giá rẻ và khi lợi thế này mất đi thì các nhà đầu tư sẽ lũ lượt bỏ sang đất nước khác kiếm lợi thế này thôi. Bằng chứng rõ rệt nhất cho chúng ta thấy là số vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2011 giảm gần 50% trong 6 tháng đầu năm 2011 (Vietstock, 30/06/2011)

Đi kẻm với nền kinh tế kém cạnh tranh là hệ thống giáo dục lỗi thời, nặng về định hướng chính trị. Hệ quả của hệ thống giáo dục này là số người trẻ được đào tạo ra không có đủ các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống để tìm việc và thích ứng trong một thế giới toàn cầu hóa đầy cạnh tranh này. Khi xây dựng nhà máy kiểm định và lắp ráp chip của Intel tại Sài Gòn, hãng này cho biết họ chỉ có thể tuyển được 40 nhân sự phù hợp mặc dù chỉ tiêu tuyển dụng lên tới 3.000 người. Hiện tại, tỷ lệ người thất nghiệp độ tuổi 15-29 chiếm đến 2/3 tổng số người thất nghiệp (Doanh nhân Sài Gòn, 22/08/2011)

Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam sụp đổ từ khu vực kinh tế quốc doanh mà ra. Để có thể tiếp tục tồn tại, Đảng Cộng Sản Việt Nam tự đặt ra một khái niệm mới về nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa với nguyên tắc cơ bản là kinh tế quốc doanh làm chủ lực nền kinh tế.

Đảng Cộng sản sợ kinh tế tư doanh làm áp lực phải thay đổi chính trị, nên muốn bảo vệ chính họ bằng cách tạo lập nền kinh tế quốc doanh bao bọc xung quanh, làm "chủ lực". Nhưng họ quên rằng còn phải nuôi nền kinh tế này, và phải nuôi rất nhiều, do nó LUÔN LUÔN đói ăn!

Hiện nay có không dưới 3 triệu đảng viên hoàn toàn không có khả năng, và không xứng đáng nhận lương quốc doanh. Vì họ không có giá trị gì cả, có chăng là con số âm.

Nhưng họ rất đói ăn trong khi tài nghệ không ra gì cả. Mà 3 triệu đảng viên ai cũng đòi kiếm tiền cho "bằng chị bằng em", ai cũng đòi kiếm về cả tỉ VND là ít nhất/ năm, nhân lên cho 3 triệu đảng viên thì ít nhất phải 3 triệu tỉ VND, bằng 150 tỉ USD. Đó là một con số cực kỳ lớn so với GDP 100 tỉ USD hiện nay của Việt Nam.

Đảng Cộng Sản Việt Nam ngoài việc xài tiền trong việc quản trị, hành chính, mà còn phải NUÔI hàng trăm cty, tập đoàn quốc doanh, trong đó có hàng triệu đảng viên, gia đình dòng họ của họ.

Không nuôi đám này thì họ làm loạn, như nay PHẢI nuôi tàn dư VINASHIN vì họ có Ủy viên TW Đảng bao che, nhưng nếu nuôi họ thì phải tung ra THÊM hàng triệu tỉ VND trong 12 tháng tới gây lạm phát kinh hoàng như chúng ta đang chứng kiến hiện nay.

Kinh tế Việt Nam sẽ sập giống như kinh tế Liên Xô cũ từng sập, đó là do THIẾU NGOẠI TỆ mà ra.

Liên Xô thiếu ngoại tệ, không đủ xăng dầu, dân đói khổ, không có hàng ngoại nhập, lúa mì thiếu thốn không có USD nhập thêm về, nên lòng dân chán ghét cộng sản, quân lính mất tinh thần, KGB lo kiếm tiền mua bánh mì, Vodka, hơn là lo bắt các thành phần "phản động"; Smerch, GRU lo đào tị làm việc cho xã hội đen, mafia, buôn vũ khí kiếm tiền chứ hết còn vì Kremlin.

Một tình trạng không khác SẼ xảy ra, Đảng Cộng Sản Việt Nam đơn giản là không đủ tiền nuôi 3 triệu đảng viên.

Thứ ba, chế độ Cộng Sản Việt Nam là chế độ độc tài vậy nên không có khả năng tự sửa chữa lỗi hệ thống của chính nó gây ra. Bản chất chế độ độc tài cộng sản không hề có LUẬT PHÁP hay cơ chế điều phối và kiểm soát, tam quyền phân lập để hạn chế quyền lực, kiềm chế lòng tham của những đảng viên.

LUẬT PHÁP là do chính Đảng Cộng Sản viết ra, thi hành, thì làm sao nghiêm minh, làm sao công chính, vì chính những người viết luật, thi hành luật, là những người Cộng Sản, những người đang ăn hối lộ ngập đầu.

Kinh tế Việt Nam PHẢI SẬP vì nó không thể không sai lầm, không thể không sập. Nó sai từ các thành tố (chỉ lấy 3% dân chúng vào đảng, theo lý lịch, không tôn giáo, v.v…), từ cấu trúc tổ chức, từ ý thức hệ, từ lý luận nền tảng, lý luận phát triển, lý luận tồn tại.

Vì vậy, Kinh tế Việt Nam sập, Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam sập, không khác các con khủng long bị diệt chủng. Đã qua thời có thể thích ứng, tiến hóa, nay quá vụng về, cục mịch để có thể thay đổi và tồn tại.

Cách duy nhất để tiến hóa là DÂN CHỦ HÓA.

Nguồn: Dự Đoán Kinh tế

Lê Duẩn và Trung Quốc

Lê Duẩn và Trung Quốc

Trần Bình Nam

Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam là một khuôn mặt về mưu mô và thao lược có lẽ chỉ đứng sau ông Hồ Chí Minh. Đó là một trong những lý do Hồ Chí Minh chọn ông làm Bí thư thứ nhất sau cuộc cải cách ruộng đất nhiều tai tiếng. Là một người cộng sản, Lê Duẩn kiên trì theo đuổi đường lối của Hồ Chí Minh là thống nhất Việt Nam và đặt cả nước dưới chế độ cộng sản. Ông đã chống lại một cách có kết quả chính sách của Mao Trạch Đông không muốn thấy miền Bắc chiếm miền Nam dù bằng hiệp thương bầu cử hay bằng vũ lực. Đối với Trung quốc một Việt Nam chia đôi, miền Bắc không thể mạnh để thành một mối lo cho Trung quốc, đồng thời làm trái độn ở biên giới phía Nam giúp Trung quốc tránh sự tiếp cận với các lực lượng quân sự Hoa Kỳ.

Từ khi bị áp lực của Trung quốc ký Hiệp định Geneve chia đôi dất nước, Lê Duẩn thấy rõ chính sách của Trung quốc đối với Việt Nam trong hơn một ngàn năm qua không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là thay đổi lối nói mồm miệng, từ "thiên triều và thuộc quốc" thành "anh em trong khối xã hội chủ nghĩa" môi hở răng lạnh giả dối.

Theo hồi ký "Cuối đời nhớ lại" của ông Nguyễn Thành Thơ một đảng viên từng có chân trong Trung ương đảng ghi lại rằng, khoảng cuối năm 1978 khi tình hình biên giới Việt – Kampuchia và Việt –Trung căng thẳng, quân lính Kampuchia thường vượt biên giới cướp của và giết người mà Việt Nam không có đối sách gì. Trong một dịp Tổng Bí thư Lê Duẩn đi thăm huyện Cần Giờ tháp tùng bởi Huyện ủy và 30 cán bộ cao cấp khác, Nguyễn Thành Thơ ghi:

"Lê Duẩn nói 'Các anh có gì hỏi tôi giải đáp' . Anh em phấn khởi rộ lên 'Xin hỏi K nó quấy rối biên giới ta, tàn sát cướp phá rất dã man điên cuồng, sao ta đối phó rất lôi thôi, chúng tôi khó hiểu'. Anh Lê Duãn trả lời 'Các đồng chí hỏi đúng là một tình hình cả nước đều quan tâm, chúng tôi đau đầu lắm ngủ không được, không phải là vấn đề Khmer đỏ, vấn đề Pôn Pốt mà là vấn đề ai đằng sau Khmer đỏ, Pôn Pốt. Lần này ta có đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung quốc đánh ta thôi, nhưng ta không chiếm K, Trung quốc cũng không chiếm ta."
(Cuối Đời Nhớ Lại của Nguyễn Thành Thơ)

Nhưng để hiểu trọn vẹn cái nhìn của Lê Duẩn đối với Trung quốc trong suốt thời gian từ những năm 1949 sau khi Mao chiếm Trung hoa lục địa thành lập Cộng hòa Nhân Dân Trung quốc, chúng ta cần đọc bài nói chuyện của Lê Duẩn với các tướng lãnh quân đội cộng sản Việt Nam (?) vào một thời điểm trong năm 1979 sau khi Trung quốc tấn công vào biên giới Việt Nam (Bài nói chuyện của Lê Duẩn năm 1979 ) . Bài nói chuyện này được lưu trữ tại Thư viện Quân đội Nhân dân ở Hà Nội và do Christopher Goscha có được và dịch ra Anh ngữ cho Chương trình Lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh (Cold War International History Project – CWIHP) thuộc Trung tâm Nghiên cứu Woodrow Wilson ở Washington D.C.
[TBN:

1. giáo sư Gosha tốt nghiệp tiến sĩ sử học đại học Sorbonne, Paris chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại các nước Đông Nam Á.

2. Chúng ta đang nghiên cứu một bài nói chuyện của một Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam. Ngôn từ trong những đoạn trích dẫn sau là ngôn từ của một lãnh tụ cộng sản Việt Nam sau khi vừa chiến thắng Hoa Kỳ, có lúc cường điệu và tự phụ. Cốt lõi ở đây là chắt lọc cái nhìn của ông Lê Duẩn đối với Trung quốc để rút ra những kinh nhiệm đáp ứng trong hoàn cảnh Việt Nam đang bị áp lực nặng nề của Trung quốc]


Lê Duẩn cho biết sau Hiệp định Geneve và sau khi không có hiệp thương chuẩn bị bầu cử như Hiệp định dự liệu, Trung quốc gây sức ép cho Bắc Việt Nam không được khởi động cuộc chiến tranh tại miền Nam, nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn cương quyết phát động cuộc chiến. Lê Duẩn không nói ra, nhưng ai cũng biết đảng cộng sản Việt Nam có thể làm vậy vì có hậu thuẫn của Liên xô. Lê Duẩn nói với các cán bộ:

"Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneve, rõ ràng là Chu Ân Lai đã [ép] chia đất nước ta làm hai. Sau đó ông ta gây sức ép buộc chúng ta không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn chúng ta đứng lên nhưng họ không thể làm gì để ngăn cản chúng ta"

Theo Lê Duẩn, sau khi miền Bắc đã phát động chiến tranh du kích tại miền Nam, biết không ngăn được nên Mao Trạch Đông đổi cách suy nghĩ, lợi dụng cuộc chiến tại miền Nam để đưa quân vào Bắc Việt dòm ngó, chuẩn bị cho chương trình xâm lấn Việt Nam về sau:
Trích bài nói của Lê Duẩn:

"Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội đến giúp chúng ta xây dựng đường sá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.

Chúng ta biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.

Sau đó, Mao bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ. Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu. Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào."

Năm 1960 khi chiến tranh du kích tại miền Nam bắt đầu tăng cường độ, tại đại hội 3 của đảng cộng sản Việt Nam, [TBN: từ 5-10/9/1960 tại Hà Nội, Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn giữ danh vị Chủ tịch đảng.] Trung quốc đã thuyết phục đảng cộng sản Việt Nam khuyến cáo Pathet Lào trả hai tỉnh giáp biên giới Việt Nam cho chính phủ Vientaine, nói là để tránh Mỹ đổ quân vào Lào, nhưng ý đồ thật của Mao là cắt tay cắt chân của Việt Nam, và sau này dùng chi viện rộng rãi mua chuộc Lào bủa một gọng kềm bên trái cùng với gọng kềm bên phải của căn cứ hải quân Yulin nằm ở cực nam đảo Hải Nam làm hai gọng kềm kẹp Việt Nam vào giữa.

Lê Duẩn nói với các cán bộ của mình:

"Khi chúng ta chuẩn bị chiến tranh du kích tại miền Nam sau khi ký Hiệp định Geneve, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm theo cái nhìn của Trung Quốc! Mao đã bức hiếp chúng ta và chúng ta đã phải làm điều đó."

Lê Duẩn giải thích sở dĩ Hoa Kỳ đổ quân vào miền Nam Việt Nam vì Liên xô và Trung quốc bất hòa nhau, và chính sách của Liên xô và Trung quốc về Việt Nam đối nghịch nhau. Liên xô muốn Hà Nội khởi động chiến tranh tại miền Nam, Trung quốc thì không muốn. Lê Duẩn dẫn chứng năm 1961 khi Liên xô, Trung quốc, Việt Nam còn là một khối (TBN: lúc đó dấu hiệu bất hòa chưa hiện ra bên ngoài) tổng thống Kennedy đã không dám can thiệp vào Lào nên cùng với Nga và Trung quốc trung lập hoá Lào và lập chính phủ liên hiệp quốc cộng tại Vientaine. Hoa Kỳ và Trung quốc có cùng mục tiêu trong việc trung lập hóa Lào, chủ yếu là chắn con đường tiếp vận quan trọng từ bắc Việt Nam vào miền Nam để giảm thiểu khả năng xâm lăng miền Nam của Bắc Việt.

Lê Duẩn nói:

"Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi Liên Xô và Trung Quốc xung đột với nhau, Mỹ được Trung Quốc thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ sự trả đũa của Trung Quốc."

Trong một đoạn khác Lê Duẩn phán đóan rằng nếu không có sự đồng ý của Trung quốc, Hoa Kỳ đã không dám gài mìn phong tỏa hải cảng Hải phòng mùa hè năm 1972 và dùng B52 bỏ bom Hà Nội tháng 12 năm đó.

Lời Lê Duẩn:

"… Tuy nhiên, Trung quốc và Hoa Kỳ đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.."

Buổi nói chuyện của Lê Duẩn đã giải thích tại sao Hà Nội phát động cuộc chiến tranh vào các thành phố và trung tâm dân cư miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân. Cường độ và địa bàn tấn công, gồm cả tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài gòn đã làm cho bộ tham mưu của tướng Westmoreland ngạc nhiên. Ngạc nhiên không phải vì không đoán trước Bắc Việt sẽ tấn công. Tình báo Hoa Kỳ đã ghi nhận sự chuyển quân của Bắc Việt. Ngạc nhiên vì tướng Westmoreland và Bộ quốc phòng Hoa Kỳ nghĩ rằng bộ đội cộng sản sẽ đánh mạnh vào các đơn vị quân đội Mỹ sau Tết và trong dịp ngưng bắn Tết họ chỉ quấy phá nhỏ. [TBN: Victory At any Costs by Cecil B. Currey, page 266-267].

Ngoài ra song hành với cuộc tấn công Mậu Thân nhiều sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt bao vây căn cứ Khe Sanh, và các chiến lược gia Hoa Kỳ vẫn còn bình luận về mục tiêu chính của Bắc Việt là thu đoạt một thắng lợi dứt điểm tại Khe Sanh như họ đã thắng trước đây tại Điện Biên Phủ hay tấn công đồng loạt vào các trung tâm dân cư để tạo một cuốc nổi dậy. Lê Duẩn cho thấy Hà Nội không có ảo tưởng hạ căn cứ Khe Sanh trước hỏa lực của Hoa Kỳ. Bao vây Khe Sanh chỉ là kế "điệu hổ ly sơn" [TBN: đúng hơn là "điệu trâu lên rừng"].

Hà Nội cũng không có ảo tưởng gì nhân dân miền Nam sẽ nổi dậy. Vào năm 1967 Hoa Kỳ có hơn 500 nghìn quân tại Việt Nam. Quân đội chính quy Bắc Việt đã chạm trán với quân đội Hoa Kỳ trong thung lũng Ia Drang trong năm 1965 và phải trốn qua biên giới Lào để khỏi bị tiêu diệt nên biết rằng không thể đụng trận mãi với các sư đoàn quân Hoa Kỳ được. Lê Duẩn và Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam tính rằng nếu Hoa Kỳ đưa thêm quân vào Việt Nam thì trước sau Bắc việt cũng thất bại. Nên chiến lược của Lê Duẩn là đánh một trận xả láng vào các thành thị miền Nam bất chấp quy ước, chấp nhận mọi tổn thất để tạo xúc động tâm lý tại Hoa Kỳ để Hoa Kỳ ngưng tăng quân và dọn đường thương thuyết.

Mục tiêu của Lê Duẩn đã đạt được. Bắc Việt đã tổn thất nặng nề về mặt quân sự, nhưng thắng lớn về mặt chính trị. Tổng thống Johnson đã không gởi thêm quân theo yêu cầu của tướng Westmoreland và đề nghị thương thuyết. Trớ trêu là lúc đó Trung quốc ngăn cản không cho Hà Nội thương thuyết. Trung quốc hứa sẽ gởi thêm súng đạn, đồng thời xúi dục Hoa Kỳ đổ thêm quân vào. Trung quốc muốn Việt Nam đánh để kiệt quệ đến người lính cuối cùng.

Lời Lê Duẩn:

"Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.

Đến lúc Hoa Kỳ muốn thương lượng với chúng ta, đại sứ Trung quốc tại Hà Nội Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: "Các anh không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các anh phải dụ quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ". Ông ta gây áp lực với chúng ta làm cho chúng ta bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề đơn giản mà rất mệt mỏi.

Chúng ta không nghe lời của Ho Wei. Chúng ta ngồi xuống ở Paris. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo với Mỹ: 'Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông muốn đưa vào Việt Nam bao nhiêu lính, tùy các ông'.

Lê Duẩn cho biết rằng có một lần Mao giả vờ không nhớ sử để cảnh cáo Lê Duẩn rằng, quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh bị Việt Nam đánh bại, nhưng quân Mao sẽ thôn tính Việt Nam, và Lê Duẩn đã phản ứng bằng cách cảnh giác rằng Việt Nam cũng sẽ đánh thắng quân Mao.

Lê Duẩn thuật lại cho các cán bộ nghe một mẫu chuyện giữa ông ta và Trường Chinh với Mao và Đặng Tiểu Bình tại Bắc Kinh năm 1963.

"Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: "Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á".

Ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: "Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á bây giờ đã rõ rồi". Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Cũng trong dip đó Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!
Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Trời! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!


Mao không hỏi thẳng về Việt Nam, nhưng gián tiếp hỏi tôi: "Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?" Tôi nói: "Đúng". Ông ta hỏi: "Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?" Tôi nói: "Đúng". Ông ta nói: "Và quân Minh nữa, phải không?"

Hiểu ý của Mao, tôi nói [nửa đùa nửa thật]: "Đúng. Nếu các ông đánh chúng tôi chúng tôi cũng sẽ đánh thắng các ông. Các ông có biết điều đó không?"

Qua bài nói chuyện của Lê Duẩn chúng ta thấy Trung quốc, dù thuộc thể chế nào, vương triều, dân chủ hay cộng sản đều có mộng thôn tính Việt Nam. Và Việt Nam dù thuộc thể chế chính trị nào cũng cảnh giác manh tâm của Trung quốc.

Quá trình cảnh giác của người cộng sản Việt Nam bắt đầu từ những năm 1954 khi Trung quốc ép ông Hồ Chí Minh ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước. Và chính quyền hiện nay cũng có sự cảnh giác cao độ. Tuy nhiên không gian xoay xở mỗi thời mỗi khác, và cách đáp ứng của chính quyền hiện nay chưa được xem là thích ứng với hoàn cảnh.

Thời đại của Hồ Chí Minh Hà Nội dễ xoay xở hơn vì có Liên xô đối trọng với Trung quốc. Và cho đến năm 1975 Trung quốc còn yếu kém về cả hai mặt kinh tế và quân sự so với Hoa Kỳ.

Bối cảnh hôm nay khác hẵn. Liên xô sụp đổ Hà Nội phải dựa vào Trung quốc hơn để tồn tại. Kinh tế Trung quốc hiện chỉ thua Hoa Kỳ, với một lực lượng quân sự hùng mạnh gấp nhiều lần quân đội cộng sản Việt Nam. Về mặt lãnh đạo, Lê Duẩn vừa có tài thao lược vừa có quyền quyết định (ngay cả khi ông Hồ Chí Minh còn sống vì được Hồ Chí Minh tin cậy) nên tuy có lúc ông phải nhượng bộ áp lực Trung quốc, ông vẫn rất cứng rắn trước các đòi hỏi qúa đáng của Trung quốc. Sau khi Lê Duẩn chết (7/1986) các Tổng bí thư kế tiếp không ai mưu lược và có nhiều quyền quyết định như Lê Duẩn. Nhất là từ đại hội 9 năm 2001 khi Nông Đức Mạnh lên Tổng bí thư, sự lãnh đạo tại Hà Nội càng ít bén nhạy hơn, và hiện nay với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng không có gì khá hơn.

Về mặt chiến lược từ tháng 4/2006 Hà Nội đã tìm cách xích lại gần Hoa Kỳ một cách dè dặt để tìm thế đối trọng với Trung quốc. (Quan Hệ Việt Trung 1991-2008). Nhưng về mặt chiến thuật cung cách đối đáp của Hà Nội trước áp lực của Trung quốc không thích hợp và được xem là nhu nhược đến độ người ta nghi ngờ Trung quốc đã nắm trọn Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam trong tay.

Nước nhỏ cạnh nước lớn cẩn trọng về ngoại giao là cần, nhưng không được để cho sự cẩn trọng làm quốc gia bại liệt. Phải biết phản ứng khi cần thiết. Không thể để cho Trung quốc bắn giết ngư dân hay cấm đánh cá trong vùng biển quốc tế mà không mạnh mẽ lên tiếng hay đưa nội vụ ra trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc dù biết Trung quốc sẽ dùng phiếu phủ quyết. Không thể để cho tàu hải giám Trung quốc húc chìm thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam mà không dám minh danh tố cáo Trung quốc mà chỉ nói là "tàu lạ". Không thể nể Trung quốc mà không đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa ra trước tòa án quốc tế trong khi Việt Nam có nhiều bằng chứng pháp lý chủ quyền, dù biết rằng tòa án quốc tế không thể thụ lý vì Trung quốc sẽ không đồng ý kiện về chủ quyền đất đai. Việt Nam cần nghiên cứu các án lệ kiện chủ quyền đất đai trên thế giới để chuẩn bị cần làm gì để có nhiều may mắn thắng trước tòa quốc tế. Việc chính quyền Hà Nội vì tế nhị ngoại giao không lên tiếng chính thức và kịp thời trước các vụ lấn đảo lấn biển của Trung quốc có thể là một bất lợi về sau. Và lệnh cấm nhân dân biểu tình chống hành động xâm lấn của Trung quốc cũng có thể là một bất lợi pháp lý khác.

Trong bài nói chuyện Lê Duẩn có nói đến khung cảnh quốc tế mới để chứng minh rằng Trung quốc không thể đánh Việt Nam mà không bị phản ứng của thế giới. Ông nói:

"Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh nước ta để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh một cách dễ dàng. [Đầu năm nay] Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: "Không được đụng đến Việt Nam"! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. Ngay cả trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do."

Ông Lê Duẩn nói đúng. Nhưng quan hệ giữa Liên xô và Hoa Kỳ bấy giờ và bây giờ đối với Việt Nam khác nhau. Năm 1979 Việt Nam có Hiệp ước an ninh vừa ký với Liên xô và Liên xô là một đồng minh tin cậy được. Khi Trung quốc đánh Việt Nam Liên xô đã đưa hạm đội đến đóng ngoài khơi Thanh Hóa Nghệ An, và Hồng quân Liên xô sẵn sàng mở mặt trấn biên giới phía bắc Trung quốc nếu Trung quốc tiến sâu hơn vào Hà Nội.

Hiện nay Việt Nam chỉ có quan hệ lỏng lẻo với Hoa Kỳ. Nhưng dù có liên minh chặt chẽ Hà Nội cũng không thể hoàn toàn tin cậy vào quyết tâm của Hoa Kỳ. Hai nước vừa đánh nhau (1965-1975) và bài học của Việt Nam Cộng Hòa còn nóng hổi. Giả thuyết Hoa Kỳ và Trung quốc chia đôi thiên hạ để cùng thống trị thế giới không phải chỉ là một giả thuyết suông. Nó có thể trở thành hiện thực và Việt Nam sẽ là con bò sữa làm lễ tế thần.

Nhưng nếu vào thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa bó tay chịu chết khi Nixon và Kissinger nói chuyện với Mao và Chu Ân Lai trên đầu mình, thì hiện nay Hà Nội có thế xoay xở hơn.

Trước hết Hà Nội cần xích lại thật gần với Ấn Độ, Nhật Bản, thân thiện với Liên bang Nga, Cộng đồng Âu Châu và liên minh chặt chẽ và cụ thể với Hoa Kỳ. Sau đó Hà Nội có thể mở một mặt trận ngoại giao và "lobby" để cảnh giác Hoa Kỳ rằng nếu Hoa Kỳ thông đồng với Trung quốc để bỏ Việt Nam thì ngày đó cũng là ngày tàn của siêu cường Hoa Kỳ. Tương quan Hoa Kỳ – Trung quốc của thế kỷ 21 khác với tương quan đầu thập niên 1970 thế kỷ trước.

Đối nội các nhà lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam cần huy động nội lực của nhân dân qua một chương trình cải tổ chính trị và chỉnh đốn vũ trang với chiến thuật du kích trên không, trên biển và đất liền.

Hoàn cảnh Việt Nam hôm nay có khó, nhưng không phải Việt Nam không có đường thoát ra khỏi nanh vuốt Trung quốc. Những anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thời nào cũng có./.


Trần Bình Nam

2011/09/01

01 September 2011

Chùa Giác Minh ở Đà Nẵng tiếp tục bị phong tỏa - Công an Đà Nẵng vừa ăn cướp vừa la làng


PHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất BP 60063 - 94472 Boissy Saint Léger cedex (France) Tel.: Paris (1) 45 98 30 85<br> Fax : Paris (1) 45 98 32 61 E-mail : pttpgqt@gmail.comPHÒNG THÔNG TIN PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Cơ quan Thông tin và Phát ngôn của Viện Hóa Ðạo
Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
E-mail : pttpgqt@gmail.com


Chùa Giác Minh ở Đà Nẵng tiếp tục bị phong tỏa - Công an Đà Nẵng vừa ăn cướp vừa la làng


2011-09-01 | Thích Viên Định | PTTPGQT

PARIS, ngày 1.9.2011 (PTTPGQT) - Tin từ Đà Nẵng cho biết sau những cuộc đàn áp, sách nhiễu, hăm dọa, bắt bớ nhằm ngăn chận không cho chùa Giác Minh cử hành lễ Vu Lan hôm 14.8.2011 mà Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã báo động qua 3 bản Thông cáo báo chí vào các ngày 12.8, 15.8, và 16.8.2011.

Chùa Giác Minh ở thành phố Đà Nẵng là nơi đặt trụ sở Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, và Tổng vụ Thanh niên Viện Hóa Đạo, do Hòa thượng Thích Thanh Quang làm Chánh Đại diện và Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên. Hòa thượng cũng là Viện chủ chùa Giác Minh.

Nhiều năm qua, các đại lễ Phật giáo như Phật Đản, Vu Lan, nhà cầm quyền Cộng sản luôn cấm đoán chùa và Phật tử cử hành các nghi thức Phật giáo, lấy cớ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) là "Giáo hội bất hợp pháp". Thế nhưng khi chư Tăng, Phật tử chất vấn văn kiện nào của Nhà nước Cộng sản ban hành cho biết GHPGVNTN "bất hợp pháp" thì cán bộ, công an, tổ dân phố cứng họng không trả lời hay trưng văn bản cấm đoán. Vì thực tế nhà cầm quyền Cộng sản chưa có một văn bản chính thức nào giải thể GHPGVNTN !

Thường lệ thì sau các ngày lễ lớn, công an rút đi không còn canh gát cẩn mật chùa Giác Minh. Nhưng năm nay, sau ngày lễ Vu Lan (14.8.11) công an tiếp tục phong tỏa chùa Giác Minh, đặt chùa vào hoàn cảnh nội bất xuất ngoại bất nhập. Đây là hành động đàn áp tự do tôn giáo một cách trắng trợn. Mặt khác, công an cho người mang 3 bài viết của Doãn Nguyên Hưng đăng trên báo Công an Thành phố Đà Nẵng, kể từ ngày 12.8.11, đến tận nhà các Phật tử cốt gây hoang mang, lo sợ. Qua bài báo mang tựa đề "Vạch trần những luận điệu vu cáo, xuyên tạc" ông Nguyên Hưng dối gạt đồng bào về quá trình hình thành của giáo hội dân lập và truyền thừa lịch sử của Đạo Phật Việt Nam có 2000 năm tuổi, là GHPGVNTN, bôi nhọ Đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, chư tôn giáo phẩm ở Quảng Nam Đà Nẵng, và ông Võ Văn Ái, Phát ngôn nhân Viện Hóa Đạo trong nước.

Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã chuyển hồ sơ đàn áp chư Tăng, Phật tử chùa Giác Minh nhờ Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam đệ trình Hội đồng Nhân quyền LHQ trong hóa họp năm nay.

Sau đây là bài nhận định của Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng thư ký Viện Hóa Đạo, về hiện tình chùa Giác Minh tại Đà Nẵng :



Vừa ăn cướp vừa la làng


Vừa qua, Nhà cầm qưyền Cộng sản đã đàn áp, ngăn chận không cho chư Tăng và Phật tử tổ chức Lễ Vu Lan Báo Hiếu theo truyền thống hằng năm tại chùa Giác Minh Đà Nẵng, làm chết bà Cụ thân mẫu của Sư cô Đồng Tâm, lại còn vu cáo nhà chùa vi phạm luật pháp và tuyên truyền dối gạt rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã tự ý sáp nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do Nhà cầm quyền Cộng sản thành lập năm 1981 nên nay không còn nữa…

Vấn đề trung niên xuất gia, vãn niên xuất gia, cải gia vi tự… là những việc bình thường, hợp pháp, đã có từ xưa trong Phật giáo, nay Nhà cầm quyền Cộng sản lại ngang ngược, gọi việc đó là bất hợp pháp để lấy cớ đàn áp.

Vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo là bản chất của Cộng sản. Năm 2004, Hoa Kỳ đã từng đặt Việt Nam vào danh sách CPC (Countries of Particular Concern) các quốc gia đàn áp nhân quyền và tôn giáo trên thế giới cần quan tâm đặc biệt.

Đảng Cộng sản dùng chủ thuyết Mác-Lênin, vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo, tiến lên Xã hội chủ nghĩa là một trò lừa gạt vĩ đại ở thế kỷ 20. Gần nửa thế giới đã bị mắc lừa, sập bẫy, trong đó có Việt Nam.

Nhưng đến cuối thế kỷ 20 thì thế giới đã tỉnh ngộ. Liên Sô và các nước Cộng sản Đông Âu đã đồng loạt từ bỏ chủ thuyết này.

Cho đến nay, không một nhân vật đương quyền Cộng sản Việt Nam nào có thể trả lời được câu hỏi: "Mô hình Xã Hội chủ nghĩa là gì?", nhưng vẫn tiếp tục lừa dối và dùng bạo lực, khủng bố, tù tội, đàn áp nhân dân để cố duy trì chế độ độc tài độc đảng quái ác này.

Năm 2006, Nghị Hội Châu Âu đã ký Quyết Định lên án các Đảng Cộng sản là phi nhân, gây tội ác với nhân loại.

Hoa Kỳ lập Đài tưởng niệm trên 100 triệu nạn nhân bị Cộng sản sát hại trên toàn thế giới. Trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sát hại trên 1 triệu người.

Đảng Cộng sản chỉ dùng bạo lực để cướp chính quyền. Đảng Cộng sản chưa bao giờ được dân chúng bỏ phiếu và đắc cử trong một cuộc tranh cử với đảng phái nào một cách văn minh, hợp pháp.

Chủ thuyết vô thần, vô gia đình, vô tổ quốc, tiến tới thế giới đại đồng là chủ thuyết bán nước, không xem trọng cội nguồn tổ tiên dân tộc và nhất là cố tình tiêu diệt tôn giáo hoặc chỉ lợi dụng tôn giáo làm công cụ như lời Lênin đã nói: "Đảng phải thông qua tôn giáo để tập hợp và kiểm soát quần chúng"

Với một Nhà cầm quyền có chính sách, đường lối bán nước, đàn áp tôn giáo như vậy, làm sao chư Tăng, Ni, Phật tử chân chính và nhất là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một Giáo hội dân lập, kế thừa truyền thống 2000 năm giữ nước, dựng nước của chư Tổ, lại có thể gia nhập vào "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam", thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức chính trị ngoại vi của Đảng Cộng sản được.

Năm 1981, Nhà cầm quyền Cộng sản lập một danh sách, đóng con dấu giả, lấy danh nghĩa là phái đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đi tham dự việc thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ Hà Nội và tuyên truyền rằng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã đồng ý sáp nhập vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam của Mặt Trận Tổ Quốc. Đó chỉ là một sự tuyên truyền lừa dối để lấy cớ đàn áp chư Tăng các chùa còn kiên trì lập trường gìn giữ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền thống, không bán mình cho Cộng sản.

(Xin xem thêm bản "Nhận Định về những sai lầm tai hại của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và Phật giáo" của Hoà thượng Thích Quảng Độ, và tài liệu "Sự thật về việc thống nhất Phật giáo" của Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ Cộng sản, là kiến trúc sư trong việc thành lập Giáo hội Nhà nước năm 1981 này sẽ rõ).

Việt Nam là một quốc gia mà hầu hết dân chúng đều theo tôn giáo. Đàn áp tôn giáo là huỷ diệt sức sống của dân tộc.

Phó thường dân (11): Luật Lệ(nh)

Phó thường dân (11): Luật Lệ(nh)

"Trong các nước dân chủ, tự do thì luật pháp là để cho dân, vì dân, tạo điều kiện cho công dân thực thi quyền bất khả xâm phạm (ngôn luận, tín ngưỡng, tụ tập, lập hội, báo chí, v.v…) của mình. Còn ở các nước độc tài thì luật lệ(nh) là cho những tên độc tài và các tên cai trị của chế độ để khống chế, áp bức, và tước đoạt quyền người dân."


[tiếp theo kỳ trước: (1) Anh tám hồ hởi – (2) Nôị-thực-dân – (3) Sợ – (4) Kỳ đà – cắc ké – kỳ nhông – (5) Con dân – con cá – cò mồi – (6) Bình vôi – bái vật – bà đồng – (7) (Vô) Hậu  - (8) Gió mưa là chuyện của trời …  – (9) Vô liêm sỉ - man rợ – (10) Phế-anh-hùng]


Trong chuyến ngao du thủ phủ Tiểu Sài Gòn (Little Saigon, California) của người Việt Nam tỵ nạn tháng tám vừa rồi, phó thường dân tui có đi dự một buổi họp có phần điều trần công cộng của Ủy ban giám sát Quận Cam (Board of Supervisors – Orange County)[1]. Đây là buổi họp vào thứ Ba hàng tuần mở rộng cho cư dân trong quận tham dự để có thể đóng góp ý kiến hoặc đặt câu hỏi cho các ủy viên giám sát về các đề mục trong chương trình nghị sự. Sau khi ngồi hơn 3 tiếng đồng hồ trong buổi họp khá dài, phó thường dân tui nhận xét thấy tinh thần dân chủ được thực thi rất là cụ thể và rõ ràng.

Theo điều lệ sinh hoạt buổi họp mở rộng của Ủy ban giám sát thì mọi cư dân có thể gởi kiến nghị về một vấn đề (trong phạm vị trách nhiệm của quận và Ủy ban) trước đó hai tuần để được duyệt cho vào chương trình nghị sự. Khi các mục trong chương trình nghị sự được đưa ra bàn luận thì cư dân có kiến nghị cũng như nhà chức trách của quận liên quan đến vấn đề được quyền trình bày và diễn giải vấn đề trong thời gian quy định (3 phút), tiếp đến là ủy viên đặt câu hỏi (nếu có) đến cư dân và người đại diện chức trách, và sau cùng (nếu cần) là các ủy viên lên tiếng thuận, chống, hoặc tránh (abstain) quyết định.

Tất cả kết quả bỏ phiếu cho mọi quyết định của các ủy viên đều được đăng tải (posted), lưu trữ (archived), và trở thành hồ sơ công khai (public records). Chính quyền có trách nhiệm lưu trữ các hồ sơ công khai này và phải cung cấp cho bất cứ công dân nào khi họ yêu cầu.

Tham dự buổi họp thì chỉ cần đi tới phòng họp và tự động vào. Không ai xét hỏi căn cước, chứng minh thư gì cả.

Người tham dự buổi họp có thể ghi danh đóng góp ý kiến cho các mục trong chương trình nghị sự có phần điều trần công cộng (public hearings)[2]. Ghi danh phát biểu ý kiến trong điều trần công cộng thì chỉ cần điền tên và số đề mục của chương trình nghị sự, ngay cả địa chỉ cư ngụ thì cũng tùy ý không bắt buộc phải cung cấp.

Mỗi người ghi danh được phát biểu ý kiến trong vòng ba phút (giới hạn để đảm bảo mọi người được tham gia). Nếu số người ghi danh quá nhiều cho phần điều trần công cộng thì để đảm bảo thời gian chủ tịch ủy ban giám sát phải trì hoãn lại các đề mục thứ yếu cho buổi họp sau. Khi đến lượt thì người phát biểu xưng tên và có thể chỉ nói ngắn gọn ủng hộ hoặc chống đối hay đưa ra những lý lẽ, tình tiết cho ý kiến của mình.

Dân chủ ở đây sao thiệt là dễ hiểu, đơn giản và không nhiêu khê, rắc rối, trục trặc, láo lếu theo kiểu dân chủ cuội dưới nhãn hiệu "dân chủ tập trung", "dân làm chủ, đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý" mà chế độ độc tài ra rả quảng cáo. Dân chủ củ khoai thì có!

Còn hổm rày phó thường dân tui cứ phải đọc, nghe về cái gọi là "tuân thủ" luật pháp, luật lệ, "đồng thuận" của các tờ báo đảng và đài truyền hình thiệt là bắc mệt. Cho là họ "nói như vẹm" mập mờ đánh lận con đen, đánh tráo chữ nghĩa và ý tưởng thì thiệt hổng có trật chỗ nào.

Thử nghe em Phương Nga hót "nhà nước pháp quyền", "tuân thủ theo quy định của pháp luật" và "để bảo đảm trật tự và an toàn xã hội"[3] rồi thì tay Nguyễn Việt viết "tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật", "Nghị định Chính phủ là một văn bản quy định pháp luật các công dân bắt buộc phải tuân thủ."[4]

Quả đúng là người dân ở bất cứ nước nào cũng đều phải tuân theo pháp luật. Thế nhưng (chết người ở cái nhưng này) ở chế độ CSVN thì có cả rừng luật mà bạo quyền sử dụng như luật rừng. Rừng luật ở chỗ là không ít luật thì vi hiến mà vô số luật lại chồng chéo, đầu gà đít vịt. Còn sử dụng luật thì lại theo kiểu luật rừng, chỉ thị miệng với toà án bỏ túi (kangaroo court).

Cô Phan Thanh Nghiên tuân thủ theo "luật pháp" đăng ký biểu tình không được phép nên toạ kháng trong trật tự ở nhà thì cũng bị xử tù. Anh Cù Huy Hà Vũ theo "pháp luật" gởi đơn kiện Thủ Tướng thì cũng bị treo án "tuyên truyền chống phá nhà nước". Luật cái mả … chúng nó chứ luật pháp gì! Mà ngay cả hiến pháp thì cũng đã bất hợp pháp[5] thế nên tất cả mọi luật lệ đều là sổ tuẹt.

Ở xứ sở Hoa-kỳ phó thường dân tui ở thì đa số các thị trấn, thành phố, địa phương không có điều lệ, sắc lịnh (ordinance) phải ghi danh/đăng ký(register) để biểu tình. Chỉ ở những thành phố lớn hoặc địa điểm quan trọng đặc biệt thì có điều lệ, sắc lịnh về biểu tình (cho số đông) để bảo đảm an ninh và trật tự. Ngay cả tại các nơi có điều lệ về biểu tình thì cá nhân hoặc các nhóm biểu tình nhỏ cũng chẳng cần ghi danh/đăng ký.

Mục đích chính về việc ghi danh biểu tình là để cơ quan chức trách chuẩn bị nhân sự để bảo đảm an toàn và trật tự cho người biểu tình và công chúng chứ không phải làm ra nghị định bắt đăng ký để cấm đoán. Không có vấn đề xin phép, kiểu cách xin-cho ở đây. Chính quyền không có quyền cấm biểu tình với lý do lăng nhăng như có khả năng "mất trật tự", "gây rối", "vì hoà bình" v.v… Nếu chính quyền gây khó dễ, dùng lý do không chính đáng để ngăn cản công dân thực hiện quyền công dân thì họ sẽ đưa ra báo bêu xấu cho mất mặt hoặc kiện ra toà.

Trong các nước dân chủ, tự do thì luật pháp là để cho dân, vì dân, tạo điều kiện cho công dân thực thi quyền bất khả xâm phạm (ngôn luận, tín ngưỡng, tụ tập, lập hội, báo chí, v.v…) của mình. Còn ở các nước độc tài thì luật lệ(nh) là cho những tên độc tài và các tên cai trị của chế độ để khống chế, áp bức, và tước đoạt quyền người dân.

Ở Seattle nơi phó thường dân tôi ở có câu lạc bộ xe đạp hàng năm tổ chức cuộc biểu tình, diễn hành bằng xe đạp để người lái xe hơi nhận thức và chú ý việc chia sẻ lòng đường với người đi xe đạp hầu ngăn chận các tai nạn. Cả mấy trăm người đi xe đạp hẹn nhau diễn hành trên đường vào giờ cao điểm, làm tắc đường. Dù cuộc diễn hành này cản trở lưu thông chung, nhưng vì hành vi đi xe đạp trên đường phố không phạm luật nên chính quyền không thể ngăn cản và cấm đoán.

Và cũng có những cuộc biểu tình từ hai nhóm đối nghịch nhau – thí dụ như  tổ chức phân biệt chủng tộc Ku Klux Klan (KKK)[6] và nhóm đấu tranh dân quyền (civil rights) – biết chắc là có khả năng rất cao gây xung đột, ẩu đả thế nhưng chính quyền cũng không thể lấy cớ đó để cấm đoán. Nhiệm vụ của họ là huy động lực lượng cảnh sát để bảo vệ cả hai nhóm. Khi nào có người biểu tình trong nhóm này hoặc nhóm nọ có hành vi bạo động thì cảnh sát mới có quyền bắt giữ riêng người đó mà thôi chứ không được quyền giải tán đám đông biểu tình.

Ngay cả khi quốc khách đồng minh thân thiết của chính phủ như Nữ hoàng nước Anh, Thủ tướng Úc thăm viếng thì người dân có biểu tình bêu rếu cũng không bị cấm cản. Quyền tự do ngôn luận của người dân quy định trong Hiến pháp Hoa-kỳ được đặt lên trên quyền lợi của các bộ, ngành trong chính quyền. Văn phòng Tổng thống, Bộ ngoại giao, Bộ nội vụ không ai dại dột hoặc ngu xuẩn ra nghị định vi hiến, vi phạm quyền công dân.

  • Trong xã hội ở chế độ dân chủ thì luật lệ bảo vệ hiến pháp và quyền lợi của người dân.
  • Trong xã hội với chế độ độc tài thì luật lệ bảo vệ tập đoàn cai trị và quyền lợi của quan quyền.

Phó thường dân tôi đành phải hô hoán rằng thì là: Những con vẹt (vẹm) đừng nêu luật pháp, luật lệ làm chi cho má nó khi. Sổ tuẹt mớ luật lệnh! Luật láo!

© 2011 Vietsoul:21


[2] (Buổi điều trần công khai có lẽ là phương tiện phổ biến nhất cho sự tham gia của công chúng ở Hoa Kỳ, được sử dụng bởi tất cả các cấp chính quyền cho nhiều mục đích) "The public hearing is perhaps the most widespread venue for public participation in the United States, used by all levels of government for a variety of purposes.", Karpowitz, Christopher. "Context Matters: A Theory of Local Public Talk and Deliberative Reform" Paper presented at the annual meeting of the American Political Science Association, Marriott Wardman Park, Omni Shoreham, Washington Hilton, Washington, DC, Sep 01, 2005. 2009-05-25

The main purpose of a public hearing is to allow citizens the chance to voice opinions and concerns over a decision facing a legislature, agency, or organization. (Mục đích chính của một buổi điều trần công khai là để cho phép công dân có cơ hội phát biểu ý kiến ​​và những quan tâm về một quyết định đang được cân nhắc bởi một cơ quan lập pháp, bộ ngành hành pháp, hoặc tổ chức.)

[6] Ku Klux Klan, wikipedia


http://vietsoul21.net/2011/08/30/pho-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-dan-11-lu%E1%BA%ADt-l%E1%BB%87nh-%E2%80%A6/

Bức thư của nhà văn Nguyên Ngọc gởi Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị

Bức thư của nhà văn Nguyên Ngọc gởi Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị


Đây là bức thư của tôi gửi ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, chiều 25-8-2011.

Định là thư ngỏ, nhưng tôi chưa công bố ngay, mà gửi trước cho vài người bạn qua email để tham khảo ý kiến.

Không biết qua đường nào, ông Phạm Quang Nghị đã biết được thư này và tối 25-8 đã đến nhà tôi, trong khi tôi đi vắng. Sáng 26-8 ông ấy đã gọi điện thoại cho tôi, nói rằng có thể Đài Phát thanh-Truyền hình Hà Nội "đã non nớt" trong khi phát phóng sự này.

Từ đó đến nay, tôi chưa công bố bức thư này để chờ xem của Đài PT-TH Hà Nội trả lời ra sao về việc làm sai trái của họ.

Nay đã có trả lời phủi tay và vô liêm sỉ của ông Trần Gia Thái, tôi quyết định đưa bức thư này ra trước công luận.

Nguyên Ngọc



Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Ngày 25-8-2011



Kính gửi ông Phạm Quang Nghị,
Bí thư Thành ủy Đảng Cộng Sản Việt Nam thành phố Hà Nội,


Tôi viết thư này cho ông vì ông là Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam của thành phố Hà Nội, là người lãnh đạo cao nhất của thành phố này, đương nhiên chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của các tổ chức và cơ quan dưới quyền lãnh đạo của ông, không chỉ là tổ chức Đảng mà cả tổ chức và cơ quan chính quyền theo cơ chế ở nước ta hiện nay.

Tối ngày 22 tháng 8 năm 2011, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, trong chương trình thời sự hằng ngày của mình từ 18 giờ 30 đến 19 giờ, đã cho phát một phóng sự về những cuộc biểu tình và những người biểu tình ở Hà Nội trong thời gian vừa qua, mà chính ông Nguyễn Đức Nhanh, Giám đốc Công an thành phố, đã trịnh trọng tuyên bố trong một cuộc họp báo trước đó là biểu tình yêu nước chống Trung Quốc gây hấn, đe dọa nghiêm trọng nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam. Vậy mà đến tối 22 tháng 8, đài phát thanh và truyền hình Hà Nội đã quay ngược hoàn toàn, coi các cuộc biểu tình và những người biểu tình ấy là phản động, và trong khi nói như vậy đã đồng thời đưa rõ hình ảnh ba người là giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Văn Khải và tôi.

Thưa ông,

Tôi năm nay đã 80 tuổi. Cho đến nay, trong suốt cuộc đời 80 năm qua của tôi, chưa có ai dám vu khống và xúc phạm tôi nặng nề như đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, một cơ quan đặt dưới dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông. Ở nước ta, như chắc chắn ông biết, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ.

Đài này còn sử dụng một thủ đoạn ti tiện mà tôi nghĩ ở tuổi ông hẳn có thể ông cũng từng được biết, vào thời cải cách ruộng đất và Nhân văn Giai phẩm, dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là đại biểu của "quần chúng nhân dân" lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và Chính quyền Hà Nội.

Tôi xin hỏi:

1 – Thành ủy Hà Nội, đứng đầu là ông, có chủ trương và chỉ đạo việc thực hiện chương trình sai pháp luật và cực kỳ vô văn hóa này của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội không?

2 – Nếu không có chủ trương và chỉ đạo đó, mà đây chỉ là hành động "tự phát" của đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, thì ai chịu trách nhiệm về việc làm sai trái nghiêm trọng này? Thành ủy Hà Nội sẽ xử lý những người đó như thế nào?

Bởi vì sự xúc phạm của đài Hà Nội là công khai, với toàn dân, với cả nước, cả thế giới, nên bức thư này của tôi là thư ngỏ, và tôi yêu cầu câu trả lời của ông cũng phải công khai.
Tôi và tất cả những người có lương tri yêu cầu và chờ đợi câu trả lời đó.


Trân trọng,
Nguyên Ngọc