04 September 2011

THÁI BÌNH DƯƠNG CHỈ YÊN ỔN KHI CHÚNG TA LÀM CHỦ NÓ

THÁI BÌNH DƯƠNG CHỈ YÊN ỔN
KHI CHÚNG TA LÀM CHỦ NÓ

(Bài 1)

Trần Gia Phụng


Tình hình Biển Đông sôi động hiện nay có thể nói bắt đầu từ chủ trương về hải phận của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ) trong thập niên 50 vào thế kỷ trước. Đây là một hiện tượng mới mẻ vào thời đó vì dưới chế độ quân chủ trước thế kỷ 20, vua chúa Trung Quốc chưa nghĩ đến việc bành trướng ra biển cả.

1.- TÂM LÝ ĐIỀN CHỦ CỦA CÁC TRIỀU ĐÌNH TRUNG QUỐC

Cho đến đầu thế kỷ 20, Trung Quốc là một nước thuần túy nông nghiệp, "dĩ nông vi bản" tức lấy nông nghiệp làm căn bản. Khi nói đến nông nghiệp là nói đất đai, ruộng đồng canh tác. Vua chúa Trung Quốc thường tự cho mình cái quyền là điền chủ của tất cả đất đai trong thiên hạ. Trong Kinh thi do Khổng Tử (551-479) san định cách đây khoảng 2500 năm, có hai câu: "Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ", nghĩa là "khắp cõi dưới trời, không có chỗ nào không phải là đất của vua".(1)

Nhìn vào bản đồ Trung Quốc, phía đông là biển, phía tây là đất liền. Vì vậy, vua chúa Trung Quốc luôn luôn nuôi mộng chiếm thêm đất đai về phía tây, xâm lăng các nước láng giềng, chiếm Mông Cổ, Tân Cương, Vân Nam, Tây Tạng, nhiều lần tấn công Đại Việt… và hầu như không chú ý đến phía đông là Thái Bình Dương. Chỉ có một ít dân chúng tiến ra các đảo cận duyên định cư vì lánh nạn hay mưu sinh.

Trong lịch sử Trung Quốc, dưới đời Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424), đô đốc Trịnh Hòa (Cheng Ho, 1371-1433) đã bảy lần dẫn hạm đội Trung Quốc từ 1405 đến 1431, vượt Thái Bình Dương, qua Ấn Độ Dương, xuống tận Phi Châu. Thậm chí tác giả Gavin Menzies, trong sách 1421: The Year the Chinese Discovered the World, (1421: Năm Trung Quốc phát hiện ra Thế giới) (New York Magazine, 2002), còn cho rằng Trịnh Hòa đã khám phá ra Mỹ Châu trước cả người Tây phương. Tuy vậy, những chuyến hải hành của Trịnh Hòa không phải để tìm kiếm thuộc địa, chiếm đất. Việc Trịnh Hòa ra đi lần đầu tiên bắt nguồn từ một việc rất thường tình.

Nguyên vào năm 1398, Minh Thái Tổ (Minh Tai Zu, trị vì 1368-1398) từ trần. Thái tử đã chết, con của thái tử, tức cháu nội Minh Thái Tổ, lên ngôi tức Minh Huệ Đế (Minh Hui Zi, trị vì 1399-1402). Người con thứ hai của Minh Thái Tổ, tức chú của Minh Huệ Đế, tên là Chu Đệ (Zhu Di) ở Yên Kinh (Bắc Kinh). Ông là một tướng tài nhiều tham vọng. Năm 1402, Chu Đệ đem quân về kinh đô Yên Lăng (Nam Kinh), lật đổ Huệ Đế. Khi vào Yên Lăng, quân của Chu Đệ tìm được xác của hoàng hậu, hoàng tử, và xác một người bị cháy không nhận diện, được nghi là Huệ Đế. Tuy nhiên, lúc đó lại có dư luận tại kinh đô cho rằng Huệ Đế có thể đã trốn thoát ra các hải đảo. Chu Đệ lên ngôi hoàng đế, tức Minh Thành Tổ (Minh Cheng Zu, trị vì 1402-1424). Thành Tổ vẫn lo ngại Huệ Đế còn trốn tránh ở hải ngoại, nên ra lệnh thành lập một hạm đội hùng mạnh và sai giám quan Trịnh Hòa đi tìm Huệ Đế.(2) Không tìm được Huệ Đế, nhưng Trịnh Hòa đem về nhiều ngọc ngà châu báu, nên từ đó có những chuyến hải hành kế tiếp. Có thể nói, Trịnh Hòa đưa hạm đội ra các đại dương hoàn toàn không phải là vì tham vọng chiếm đóng thuộc địa của vua nhà Minh. Trịnh Hòa là phái đoàn duy nhất của triều đình Trung Quốc viễn du trên đại dương, nhưng không vì mục đích chiếm đất.

Hai hải đảo lớn gần lục địa Trung Quốc là Đài Loan và Hải Nam. Năm 111 trước Công nguyên, Hán Võ Đế (Han Wu Ti, trị vì 140-87 TCN) sai Lộ Bác Đức (Lu Bode) đem quân đánh nước Nam Việt (Quảng Đông) do nhà Triệu cai trị. Lộ Bác Đức tiến quân chiếm luôn đảo Hải Nam và đặt một binh trạm ở đây, nhưng vào năm 46 TCN, nhà Hán cho rằng việc chiếm đóng quá tốn kém nên rút lui. Từ đó, Hải Nam tuy tự trị nhưng về hành chánh khi thì thuộc Quảng Đông, khi thì thuộc Quảng Tây. Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), Nhật Bản chiếm đóng Hải Nam. Khi cộng sản chiếm được lục địa Trung Quốc năm 1949, cộng sản chiếm luôn Hải Nam năm 1950.

Đảo Đài Loan cũng thế. Nhà cầm quyền Trung Quốc có thể biết đến Đài Loan từ thế kỷ thứ 3, thời Tam Quốc (213-280). Tuy nhiên thổ dân địa phương tự trị. Đây là một nhánh thuộc tộc người Mã Lai đa đảo (Malayo-polynesian). Cuối thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha đến đây năm 1590, gọi đảo nầy là Ilha Formosa (Đảo xinh đẹp). Người Bồ không ở đây lâu. Năm 1622, Công ty Đông Ấn Hòa Lan (The Dutch East India Company) đặt căn cứ quân sự ở quân đảo Pescadore (còn gọi là Penghu hay Bành Hồ), nhưng bị người Trung Quốc đánh đuổi, phải bỏ qua Đài Loan và xây dựng cơ sở ở đây từ năm 1624.

Người Hòa Lan cai trị Đài Loan cho đến khi bị Trịnh Thành Công (Cheng Cheng-kung), một cựu tướng nhà Minh, đánh bại năm 1662. Trịnh Thành Công dùng Đài Loan làm căn cứ chống nhà Thanh (Ch'ing, 1644-1911). Truyền đến đời cháu nội là Trịnh Khắc Sảng, mới 12 tuổi, thì Trịnh Khắc Sảng bị đô đốc của nhà Thanh là Thi Lang (Shih Lang) đánh bại năm 1683. Thi Lang chiếm Đài Loan. (Thi Lang (Shih Lang) được dùng đặt tên hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc năm 2011.)

Trong chiến tranh Trung Nhật 1894-1895, Trung Quốc thất bại, phải ký hòa ước Shimonoseki năm 1895, nhượng Đài Loan cho Nhật Bản. Năm 1945, Nhật Bản thất trận, trả Đài Loan lại cho Trung Quốc. Năm 1949, Quốc Dân Đảng thất bại ở lục địa, di tản ra Đài Loan, tiếp tục lập chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tại đây.

Như thế, rõ ràng cho đến thế kỷ 20, vua chúa Trung Quốc không chú ý đến việc tiến ra các hải đảo, kể cả hai hải đảo lớn và gần là Đài Loan và Hải Nam. Với tâm lý điền chủ, các triều đại Trung Quốc chỉ nghĩ đến việc sở hữu đất đai trên lục địa, về phía tây mà thôi. Những đảo lớn ở gần như Đài Loan và Hải Nam còn chưa nghĩ đến, nên chắn chắn những triều đình Trung Quốc chưa nghĩ đến những đảo xa xôi như Hoàng Sa và Trường Sa.

Gần đây, báo China Daily ngày 22-7-2011 trang 9, đăng bài "Claim over Islands Legitimate" của Li Guoqiang" (Lý Quốc Cường?), cho rằng: "Chính quyền Quốc Dân Đảng đã nghiên cứu và xác định tên tiếng Trung Quốc và tiếng Anh cho toàn bộ các đảo, vỉa đá Trung Quốc trên biển phía nam Trung Quốc vào tháng 12/1934 và tập hợp chúng lại thành bốn quần đảo lần đầu tiên. Một bản đồ ấn hành vào tháng 4-1935 cho thấy chi tiết các đảo của Trung Quốc trên biển phía nam Trung Quốc, đánh dấu mũi cực nam của biển phía nam Trung Quốc là Zengmu'ansha ở vĩ độ 4 độ Bắc chí tuyến. Một bản đồ khác, ấn hành tháng 2/1948 cho thấy, sự phân chia hành chính của Trung Hoa Dân Quốc. Bản đồ còn cho thấy đường nối dài 11 điểm bao quanh bốn quần đảo với mũi cực nam ở Zengmu'ansha. Đây là bản đồ đầu tiên đánh dấu biên giới hình chữ U của Trung Quốc trên biển phía nam Trung Quốc. Các bản đồ ấn hành sau khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành lập [1949] đã giữ lại đường nối dài 11 điểm, và cho tới năm 1953, thì hai điểm đánh dấu Vịnh Bắc Việt bị xóa bỏ. Sau đó, tất cả bản đồ Trung Quốc đều theo đường nối dài chín điểm, hình chữ U." (3)

Những bản đồ trên đây chỉ được vẽ từ năm 1934, nhưng không có bằng cớ lịch sử thực tế chứng tỏ sự hiện diện của người Trung Quốc tại các quần đảo ghi trong bản đồ. Chính vì vậy mà hội nghị Hòa bình San Francisco năm 1951 đã bác bỏ lập luận của Liên Xô đòi giao các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

2.- HỘI NGHỊ HÒA BÌNH SAN FRANCISCO 1951

Những tài liệu của Việt Nam đưa ra về chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có thể bị các nước trên thế giới, nhất là Trung Quốc bỏ qua, không tin tưởng, nhưng có một tài liệu quốc tế mà các nước không thể chối bỏ, đó là Treaty of Peace with Japan (Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản) ký kết ngày 8-9-1951 tại San Francisco.

Nguyên từ ngày 4 đến ngày 8-9-1951, tại San Francisco, diễn ra Hội nghị hòa bình giữa 51 nước trong đó có cả Nhật Bản,(4) bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Châu Á Thái Bình Dương và ký kết một hiệp ước hòa bình với Nhật Bản. Cả Trung Hoa Dân Quốc lẫn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ) đều không được mời tham dự vì hội nghị không biết mời ai là đại diện cho Trung Quốc tại hội nghị.

Khi dự thảo hiệp ước được đưa ra bàn luận, về các hải đảo ở Biển Đông, ngày 5-9-1951 đại diện Liên Xô là Andrei Gromyko cho rằng các đảo Paracels (Hoàng Sa) và các đảo khác về phía Nam, được xem là lãnh thổ không thể nhân nhượng được của Trung Quốc, và yêu cầu bổ sung vào hiệp định là các hải đảo đó thuộc chủ quyền của CHNDTQ. Tuy nhiên, Gromyko không đưa ra bằng chứng cụ thể nào về chủ quyền của CHNDTQ đối với các đảo trên. Vì vậy, trong cuộc bỏ phiếu, chỉ có 3 phiếu của 3 nước cộng sản thuận (Soviet Union, Czechoslovakia, Poland), còn tất cả các nước khác đều bác. Điều nầy chứng tỏ rằng ngoài các nước cộng sản đồng minh của Trung Quốc, không nước nào trên thế giới cho rằng các quần đảo Hoàng Sa và phía nam thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Cuối cùng, hội nghị đi đến việc ký kết bản Treaty of Peace with Japan (Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản) ngày 8-9-1951 trừ 3 nước cộng sản, đồng minh của Trung Quốc không chịu ký. Bản hiệp ước gồm 7 chương, 27 điều, trong đó khoản (b) và khoản (f), điều 2, chương II, liên hệ đến Trung Quốc và Việt Nam nguyên văn như sau: "Japan renounces all right, title and claim to Formosa and Pescadores." (Nhật Bản từ bỏ mọi quyền hành, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Đài Loan và Bành Hồ.). "Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracels Islands."(5) (Nhật Bản từ bỏ mọi quyền hành, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Spratly [Trường Sa] và quần đảo Paracels [Hoàng Sa].)

Cần lưu ý, đây là hiệp ước hòa bình sau khi Nhật Bản thất trận và đầu hàng Đồng minh năm 1945. Nhật Bản tuyên bố từ bỏ quyền hành ở các hải đảo, nhưng hiệp ước nầy không ghi là giao lại cho ai, vì hải đảo của nước nào thì đương nhiên nước đó nhận lại. Riêng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn là của Việt Nam, và trước thế chiến thứ 2, khi Nhật Bản đến Việt Nam, Việt Nam do Pháp bảo hộ, nên hai quần đảo nầy do Pháp cai quản. Liên Xô yêu cầu giao hai quần đảo nầy cho Trung Quốc, nhưng không có tài liệu cụ thể nên bị hội nghị bỏ phiếu từ chối, nghĩa là mặc nhiên công nhận hai quần đảo nầy thuộc Việt Nam và do Pháp quản trị.

Vì vậy, cũng trong ngày ký kết hiệp định nầy (8-9-1951), trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam (trong Liên Hiệp Pháp) là thủ tướng Trần Văn Hữu đã tuyên bố như sau: "Cũng vì thành thật lợi dụng mọi cơ hội hầu dập tắt những mầm mống tranh chấp về sau, chúng tôi tuyên bố xác nhận chủ quyền của chúng tôi tại các quần đảo Hoàng Sa và Hoàng Sa, từ lâu đời, những nơi đó vốn thuộc lãnh thổ Việt Nam chúng tôi."(6) Lời tuyên bố nầy không gặp sự phản đối nào của các thành viên tham dự hội nghị.

Ngoài Hiệp định Hòa bình San Francisco, Nhật Bản còn ký riêng với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) hiệp định hòa bình ngày 28-4-1952, theo đó có khoản thừa nhận điều 2 chương II của Hiệp định Hòa bình San Fracisco về việc Nhật từ bỏ quyền hành, danh nghĩa và đòi hỏi đối với các quần đảo ở Thái Bình Dương đã đề cập trên đây.

Trong khi đó, sau khi Nhật Bản thất trận, Anh đến Việt Nam giải giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16 theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945. Quân đội Pháp theo quân đội Anh trở lại Đông Dương, và dần dần thay thế quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. Cũng theo tối hậu thư Potsdam, ở phía bắc vĩ tuyến 16, quân đôi Trung Quốc đến Việt Nam giải giới quân đội Nhật. Ngày 28-2-1946, Pháp và Trung Quốc ký hiệp ước Trùng Khánh, theo đó Trung Quốc đồng ý cho quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Quốc ở Bắc vĩ tuyến 16 và quân Trung Quốc rút về nước. (Hoàng Sa nằm ở 15,45 độ Bắc và 17,15 độ Bắc. Trường Sa ở 6,50 độ Bắc và 12 dộ Bắc.) Đổi lại, Pháp nhượng lại cho Trung Quốc một số quyền lợi kinh tế của Pháp ở Trung Quốc và ở Bắc Việt.

Sau thỏa thuận nầy, Pháp cho quân đổ bộ lên các hải đảo vừa kể vào tháng 6-1946 và tái tổ chức hành chánh, cho đến khi giao lại hoàn toàn cho chính phủ Quốc Gia Việt Nam sau năm 1954. Qua thời Việt Nam Cộng Hòa, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy.

Lịch sử rõ ràng là như thế, nhưng kẻ cường bạo có lý lẽ riêng của súng đạn.

3.- HOÀN CẢNH XUẤT HIỆN TUYÊN CÁO 4-9-1958

Sau thế chiến thứ hai (1939-1945), tranh chấp Quốc-Cộng tái phát ở Trung Quốc. Năm 1949, đảng CS Trung Quốc thành công. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan tiếp tục chính thể Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập chính thể Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (CHNDTQ) ngày 1-10-1949.

Năm sau (1950), chiến tranh Triều Tiên bùng nổ giữa Bắc Triều Tiên với CHNDTQ một bên và Nam Triều Tiên cùng Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc một bên. Hoa Kỳ phái Đệ thất hạm đội đến bảo vệ Đài Loan và eo biển Đài Loan. Chiến tranh Triều Tiên chấm dứt năm 1953.

Sự hiện diện của hạm đội Hoa Kỳ ở eo biển Đài Loan được Trung Quốc xem là một mối đe dọa Trung Quốc. Nguyên trong eo biển Đài Loan, hai quần đảo Kim Môn-Mã Tổ, nằm cách hải cảng Hạ Môn (Xiamen), tỉnh Phúc Kiến (Fujian) của Trung Quốc khoảng 15 cây số, trong khi cách bờ biển Đài Loan khoảng 270 cây số, nhưng hai quần đảo nầy lại thuộc quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).

Tháng 9-1954 Trung Quốc mở cuộc pháo kích hai đảo Kim Môn và Mã Tổ. Đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhứt. Đài Loan rất nhỏ so với lục địa Trung Quốc, nhưng lúc đó THDQ (Đài Loan) vẫn là thành viên thường trực của tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ), trong khi CHNDTQ rộng lớn hơn rất nhiều, vẫn chưa được vào LHQ. Ngày 2-12-1954, Hoa Kỳ và THDQ ký Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương (Sino-American Defence Treaty) tại Đài Bắc (Taipei) và có hiệu lực từ ngày 3-3-1955. Trước việc Hoa Kỳ quyết chí bảo vệ Đài Loan, tháng 4-1955, Trung Quốc chịu ngồi vào bàn hội nghị thương lượng và cuối cùng cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhứt chấm dứt vào đầu tháng 5-1955.

Tại LHQ, từ 24-2 đến 29-4-1958, trước sau có 86 quốc gia thành viên họp ở Genève (Thụy Sĩ) để bàn về luật biển. Hội nghị đưa đến kết quả là việc ký kết bốn quy ước về luật biển (United Nations Convention on Law of the Sea, viết tắt là UNCLOS): 1) Quy ước về hải phận và vùng tiếp giáp. 2) Quy ước về thềm lục địa. 3) Quy ước về Hải phận quốc tế. 4) Quy ước về nghề đánh cá và bảo tồn tài nguyên sống ở hải phận quốc tế.

Trong số các quy ước trên đây, riêng Quy ước về hải phận và vùng tiếp giáp, các nước tham dự hội nghị Genève có lập trường khác nhau về chiều rộng của hải phận, và không có lập trường nào hội đủ túc số 2/3, nên tuy Quy ước về hải phận và vùng tiếp giáp ngày 29-4-1958 gồm 32 điều, nhưng không có điều nào của quy ước nầy ấn định chiều rộng nhất định của hải phận các nước trên thế giới. (7)

Trung Quốc và hai miền Bắc và Nam Việt Nam không được mời tham dự hội nghị Genève vì không phải là thành viên LHQ nên không có cơ hội phát biểu lập trường tại diễn đàn LHQ. Trong khi đó, vấn đề quần đảo Kim Môn - Mã Tổ, hai quần đảo nằm sát Trung Quốc, vẫn luôn luôn là bận tâm của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Trước những tranh cãi tại LHQ về chiều rộng của hải phận quốc gia và hải phận quốc tế, Mao Trạch Đông tuyên bố ngày 28-6-1958 với một nhóm tướng lãnh thân cận rằng: "Hiện nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó." ("Now the Pacific Ocean is not peaceful. It can only be peaceful when we take it over.") (8) Phát biểu nầy là khởi đầu cho chủ trương mới của Trung Quốc về Biển Đông và Thái Bình Dương.

Ngày 23-8-1958, Trung Quốc pháo kích và đe dọa hai quần đảo Kim Môn và Mã Tổ lần nữa, khiêu khích Đài Loan và Hoa Kỳ. Hành động của Trung Quốc lần nầy có thể nhắm hai mục đích: 1) Trả lời cho LHQ về chiều rộng của hải phận Trung Quốc, vì Kim Môn-Mã Tổ chỉ cách bở biển Trung Quốc khoảng 15 cây số (dưới 12 hải lý). 2) Phá hoại sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và Liên Xô theo chủ trương chung sống hòa bình do Nikita Khrushchev đưa ra từ 1956, đồng thời đưa Liên Xô vào thế phải đứng về phía Trung Quốc trong tình thế căng thẳng, vì nếu không, Liên Xô sẽ mất hậu thuẫn của các nước cộng sản khác trên thế giới. Đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai.

Một sự kiện quan trọng khác ở Trung Quốc tuy không liên hệ đến luật biển, nhưng đã xảy ra trước khi Trung Quốc ra tuyên cáo về chiều rộng của hải phận Trung Quốc. Đó là vào đầu năm 1958, Mao Trạch Đông ra lệnh quy hoạch dân chúng trong các làng xã thành những "nhân dân công xã", theo đời sống tập thể cộng sản và phát động chiến dịch "Đại nhảy vọt" (Great Leap Forward) nhằm canh tân đất nước. Bước "Đại nhảy vọt dự tính sẽ gia tăng sản lượng điện, than đá và sắt thép trong vòng ba năm. Các lò luyện thép nhỏ được xây dựng theo phương pháp cổ truyền ngay sau vườn nhà. Nhiều nơi không có nguyên liệu, đã sử dụng cả nồi chảo trong nhà để nấu thép. (Cuộc "Đại nhảy vọt" hoàn toàn thất bại. Mao Trạch Đông phải lùi một bước, nhường chức chủ tịch nước cho Lưu Thiếu Kỳ năm 1959 và cuộc "Đại nhảy vọt" chấm dứt năm 1962.)

Tuy thất bại, bước "Đại nhảy vọt" cho thấy sau giai đoạn củng cố chính quyền, đảng CS Trung Quốc bắt đầu nghĩ đến cải cách kỹ nghệ nhằm canh tân đất nước. Cuộc cải cách kỹ nghệ chắc chắn đòi hỏi phải gia tăng nguyên liệu và nhiên liệu. Cả hai thứ nầy không phải chỉ tìm kiếm trên đất liền mà còn có thể tìm kiếm dưới đáy đại dương. Phải chăng vì vậy cũng tác động đến sự ra đời của tuyên cáo ngày 4-9-1958? (Còn tiếp)


TRẦNGIAPHỤNG

(Toronto, Canada)


1.  Khổng Tử san định, Thi kinh tập truyện, Tạ Quang Phát dịch, tập 2, Sài Gòn: Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục, 1969, Bài thứ 211, Chương 2, câu số 7 và số 8.

2.  Louise Levathes, When China Ruled the Seas, New York: Oxford University Press, 1994, tt. 71-73. Sách nầy dựa trên bổ sử Minh thông giám thời nhà Minh.

3.  Nguyên văn bằng Anh ngữ "The Kuomintang government examined and approved of both the Chinese and English names for all the Chinese islands and reefs in the South China Sea in December 1934 and grouped them into four archipelagos for the first time. A map published in April 1935 shows the Chinese islands in the South China Sea in details, marking the southernmost tip of the South China Sea as Zengmu'ansha at 4-degree latitude north. Another map, published in February 1948, shows the administrative division of the Republic of China. The map also shows 11 dotted lines encircling the four archipelagos with its southernmost point at Zengmu'ansha. It was the first map to mark the U-shaped maritime boundary of China in the South China Sea. Maps published after the founding of the People's Republic of China retained the 11-dotted line, and it was not until 1953 that the two dots marking the Beibu Gulf were deleted. After that, all Chinese maps have followed the nine-dotted, U-shaped pattern." (China Daily, 22-7-2011, p. 9.) Ngoài Trung Quốc, báo nầy còn có ấn bản tại Âu Châu và Hoa Kỳ, và chuyển lên website (http://usa.chinadaily.com.cn/us/index.html). Hình chữ U còn được gọi là hình "lưỡi bò".

4.  Năm mươi mốt nước (cả Nhật Bản) đó là (theo thứ tự ABC): Argentina, Australia, Belgium, Bolivia, Brazil, Cambodia, Canada, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Cuba, Czechoslovakia, Dominican Republic, Ecuador, Egypt, El Salvador, Ethiopia, France, Greece, Guatemala, Haiti, Honduras, Indonesia, Iran, Iraq, Japan, Laos, Lebanon, Liberia, Grand Duchy of Luxembourg, Mexico, Netherlands, New Zealand, Nicaragua, Norway, Pakistan, Panama, Peru, Republic of the Philippines, Poland, Saudi Arabia, Soviet Union, Syria, Turkey, Union of South Africa, United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland, United States of America, Uruguay, Venezuela, Viet Nam.

5.  United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, pp. 45 - 164.

6.  Phùng Ngọc Sa, "Chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về ai?", tập san Hiệp Nhất, Santa Ana, số 60, tháng 12-1997, tr. 85.

7.  http://untreaty.un.org/ilc/texts/instruments/english/conventions/8_1_1958_territorial_sea.pdf. Lúc đó Hoa Kỳ đề nghị hải phận là 3 hải lý được 45 quốc gia công nhận, 4 quốc gia 4 hải lý, 15 quốc gia từ 5-10 hải lý, 9 quốc gia 12 hải lý và 2 quốc gia 200 hải lý. (1 nautical mile = 1,852m.).

8.  Jung Chang and Jon Halliday, The Unknown Story MAO, New York: Alfred A. Knopf, Publisher, 2005, tr. 426.

 

4.- TUYÊN CÁO NGÀY 4-9-1958 CỦA CHNDTQ

Như đã viết, vào đầu năm 1958 Trung Quốc chưa phải là thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) nên Trung Quốc không có tiếng nói tại diễn đàn hội nghị Genève về hải phận. Dầu vậy, do sự ra đời của các quy ước về luật biển (UNCLOS) của LHQ ngày 29-4-1958, nhất là Quy ước về hải phận và vùng tiếp giáp, Trung Quốc liền lên tiếng nhằm xác định hải phận của mình. Ngày 4-9-1958, Ban Thường trực của Quốc hội Trung Quốc đã thông qua bản tuyên cáo về hải phận, được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó bản dịch Việt Ngữ như sau:

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG QUỐC VỀ LÃNH HẢI

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân

ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

1.  Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

2.  Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

3.  Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc.

4.  Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.(9)

Mục đích của bản tuyên cáo là xác định hải phận của Trung Quốc. Tuy nhiên nếu đọc kỹ bản tuyên cáo, có một ý được lập lại nguyên văn như nhau trong điều 1 và điều 4 của một bản tuyên cáo ngắn, với lời lẽ xác định chắc chắn, không có gì phải tranh cãi. Đó là "quần đảo Penghu [Bành Hồ], quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc." Sự lập lại nầy rõ ràng là chủ ý của Trung Quốc, khẳng định một số quần đảo trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc và đặt tên là Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha).

Như thế, bản tuyên cáo ngày 4-9-1958 của CHNDTQ có hai chủ điểm: Thứ nhất xác định lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lý. Thứ hai xác định chủ quyền của Trung Quốc trên một số quần đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dầu Trung Quốc dư biết qua hội nghị San Francisco năm 1951, rằng quốc tế đã bác khước ý kiến của Liên Xô là giao hai quần đảo nầy cho Trung Quốc, cũng như quốc tế không phản đối lời xác nhận chủ quyền của thủ tướng Trần Văn Hữu về hai quần đảo nầy. (Xin xem lại phần 1).

Cần chú ý là theo luận điệu của Trung Quốc, ghi lại trong bài báo "Paracels Islands Dispute" do Frank Ching đưa ra, đăng trên Far Eastern Economic Review tháng 10-1994, thì vào tháng 6-1956, thứ trưởng Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với Li Zhimin, uỷ viên Thường vụ Tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội rằng "theo những dữ kiện của Việt Nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung Quốc." (10) Chuyện nầy chỉ do Li Zhimin (phía Trung Quốc) thuật lại, có tính cách phiến diện, không đủ giá trị pháp lý để làm bằng chứng cho một quyết định quan trọng về lãnh thổ của một nước.

Lời của Ung Văn Khiêm không ghi thành văn bản ngoại giao cụ thể và không tồn lưu, vì nếu có, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra nhằm chứng minh cho những đòi hỏi của Trung Quốc. Tuy nhiên, công hàm của Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 thì không còn cách nào chối bỏ được.

5.- CÔNG HÀM NGÀY 14-9-1958 CỦA VNDCCH

Bản tuyên cáo của Trung Quốc đưa đến hai phản ứng khác nhau. Phản ứng chống đối, đương nhiên trong đó có Hoa Kỳ và Đài Loan. Hoa Kỳ và Đài Loan chỉ chống đối về vấn đề chiều rộng của hải phận, không quan tâm đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Phản ứng ủng hộ của khối cộng sản, trong đó có VNDCCH. Sau đây là nguyên văn bản công hàm của nhà nước VNDCCH do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14-9-1958.

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà nội ngày 14 tháng 9 năm 1958

Trước hết, công hàm ngày 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng ký tên, nhưng Phạm Văn Đồng không thể tự ý làm việc nầy một mình vì trong chế độ cộng sản ở Bắc Việt Nam, nhà nước chỉ là cánh tay nối dài của đảng Lao Động (tên của đảng Cộng Sản từ năm 1951), và hoàn toàn do đảng Lao Động điều khiển. Vì vậy công hàm do Phạm Văn Đồng ký ngày 14-9-1958 chắc chắn phải thông qua Ban bí thư Trung ương đảng và Bộ chính trị đảng Lao Động, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch kiêm tổng bí thư. (Trường Chinh bị mất chức tổng bí thư năm 1956 sau vụ Cải cách ruộng đất.)

Ban lãnh đạo đảng Lao Động biết rõ hai chủ điểm trong bản tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Quốc: Thứ nhất bản tuyên cáo xác định hải phận của CHNDTQ là 12 hải lý. Thứ hai bản tuyên cáo xác định chủ quyền của CHNDTQ đối với một số quần đảo, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn là của Việt Nam.

Dầu biết vậy, công hàm ngày 14-9-1958 của VNDCCH vẫn "ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc." Viết như thế, có nghĩa là VNDCCH tán thành luôn cả việc "quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc."

Chuyện 12 hải lý là chuyện của Trung Quốc. Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động ủng hộ hay không, dân Việt Nam không quan tâm. Tuy nhiên, đối với dân Việt Nam, chuyện Phạm Văn Đồng cùng Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng Lao Động tán thành "quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc" là một hành vi phản quốc trắng trợn, đáng lên án còn hơn cả Trần Ích Tắc vào thế kỷ 13 hay bà thái hậu nhà Lê qua cầu viện quân Thanh vào thế kỷ 18.

Vấn đề đặt ra là tại sao thủ tướng VNDCCH làm như vậy? Làm như vậy với mục đích gì? Có thể có hai nguyên nhân khiến cho Bộ chính trị đảng Lao Động quyết định ủng hộ tuyên cáo ngày 4-9-1958 của CHNDTQ:

Thứ nhất, nguyên nhân lịch sử. Từ những ngày đầu tiên mới thành lập năm 1930, đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã được đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) giúp đỡ tối đa. Đến cuộc chiến 1946-1954, CSVN thua keo đầu, bị Pháp đuổi chạy từ năm 1946 cho đến năm 1949. Sau khi đảng CSTQ thành công, lập nên nhà nước CHNDTQ năm 1949, Hồ Chí Minh qua Trung Quốc rồi qua Liên Xô cầu viện vào tháng 2-1950. Tại Moscow, lúc đó cũng có mặt Mao Trạch Đông, Stalin đã nói với Hồ Chí Minh: "Chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp chủ yếu là do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn."(11)

Từ Moscow trở về Bắc Kinh trên cùng một chuyến xe hỏa, Hồ Chí Minh chủ động qua toa xe của Mao Trạch Đông, nói bằng tiếng Trung Quốc với Mao Trạch Đông: "Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến chống Pháp của Việt Nam từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc…… Vì vậy chúng tôi còn muốn yêu cầu Trung Quốc cử cố vấn quân sự các cấp quân đoàn, đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, giúp chúng tôi huấn luyện bộ đội, xây dựng bộ đội và chỉ huy tác chiến."(11) (Người viết in đậm.) Đảng CSTQ không bỏ lỡ cơ hội đầu tư vào Việt Nam.

Nhờ đó, CSVN mới gượng lại được, nhất là từ khi cố vấn Trần Canh (Chen Geng) giúp chiến thắng Đồng Khê và bắt được hai trung tá Pháp tháng 9-1950. Tiếp đó, cố vấn quân sự và chính trị Trung Quốc hướng dẫn từng chiến dịch của CSVN, cho đến trận Điện Biên Phủ (ĐBP) năm 1954. Chiến dịch ĐBP do sáng kiến của các tướng lãnh Trung Quốc, do quyết định của Quân uỷ trung ương đảng CSTQ, và do viện trợ võ khí nhất là trọng pháo của CSTQ. (12) Thậm chí đào chiến hào tấn công ĐBP cũng do kỹ sư Trung Quốc thực hiện. Những kỹ sư nầy có kinh nghiệm từ chiến tranh Triều Tiên. (13)

Khi xin CSTQ viện trợ cho CSVN trong chiến tranh 1946-1954, không biết CSVN đã cam kết những gì để trả nợ Trung Quốc, nhưng trên thế giới nầy, không có cái gì là cho không, biếu không, vì "có qua có lại mới toại lòng nhau". Phải chăng vì những nợ nần chồng chất trong quá khứ, đã có một cuộc vận động ngầm thúc đẩy, áp lực Hồ Chí Minh và các lãnh tụ đảng LĐ quyết định ký bản công hàm ngày 14-9-1958.

Thứ hai, nguyên nhân thời cuộc. Vào thời điểm năm 1958, CSVN rất lúng túng trong nội bộ khối cộng sản quốc tế. Nguyên trước đó hai năm, từ 14 đến 25-2-1956, tại Moscow, đảng Cộng Sản Liên Xô (CSLX) tổ chức Đại hội lần thứ 20 đảng CSLX. Trung Quốc và Bắc Việt Nam (CSVN) đều cử đại diện tham dự. Vào ngày cuối Đại hội, tân lãnh tụ Liên Xô là Nikita Khrushchev đọc một bài diễn văn kịch liệt tố cáo Joseph Stalin là một tên độc tài tàn ác, phạm nhiều sai lầm trong thế chiến thứ hai cũng như trong chính sách nội trị và ngoại giao. Cũng trong dịp nầy, về bang giao quốc tế, Khrushchev đưa ra chủ trương "sống chung hòa bình" (peaceful coexistence) giữa các nước không cùng chế độ chính trị, hòa hoãn với các nước Tây phương. Trung Quốc chống lại chủ trương nầy. Từ đó, hai bên lời qua tiếng lại, chống đối lẫn nhau càng ngày càng quyết liệt.

Trước sự tranh chấp giữa hai nước cộng sản đàn anh, CSVN rất khó xử, không dám làm mất lòng một hai nước cộng sản lớn, vì CSVN đều đang cần sự giúp đỡ của cả hai Lúc đó CSVN đang chuẩn bị chiến tranh chống lại miền Nam Việt Nam.

Tuy nhiên, đứng về chính trị quốc tế, CSVN theo chủ trương của Trung Quốc hơn là theo Liên Xô. Cộng sản VN không chấp nhận chủ trương chung sống hòa bình giữa các nước không cùng chế độ chính trị do Liên Xô đưa ra, vì nếu chấp nhận như thế, Bắc Việt Nam không có lý do gì để tiến đánh miền Nam Việt Nam. Cũng trên lập trường chính trị, CSVN nghiêng về Trung Quốc vì Trung Quốc cương quyết chống Hoa Kỳ bất cứ ở đâu, và vì lúc đó Hoa Kỳ đang giúp Nam Việt Nam, tức là kẻ thù của Bắc Việt Nam.

Nếu CSVN ủng hộ Trung Quốc trong cuộc tranh chấp Nga-Hoa thì chắc chắn CSVN sẽ làm mất lòng Liên Xô và sẽ không được Liên Xô viện trợ. Vì vậy, nhân cơ hội tuyên cáo ngày 4-9-1958 của CHNDTQ về vấn đề lãnh hải, không liên hệ gì đến cuộc tranh chấp Nga – Hoa, VNDCCH (Bắc Việt Nam) liền công khai lên tiếng ủng hộ Trung Quốc để chứng tỏ VNDCCH sẵn sàng đứng bên cạnh CHNDTQ, nhằm lấy lòng Trung Quốc, mà không sợ bị Liên Xô trách cứ. Cộng sản Việt Nam cần phải lấy lòng Trung Quốc vừa đền ơn sự giúp đỡ của Trung Quốc trong quá khứ, vừa chuẩn bị tiếp tục xin viện trợ quân sự để tấn công miền Nam Việt Nam trong tương lai.

Vì các lẽ trên, Hồ Chí Minh và các lãnh tụ trong Bộ chính trị đảng LĐ chuẩn thuận cho Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14-9-1958, ủng hộ tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung Quốc. (Việc tấn công miền Nam được đảng Lao Động quyết định trong Hội nghị Trung ương đảng ngày 13-5-1959, rồi sau đó đưa ra Đại hội III đảng Lao Động từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960.)

6.- TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Chính vì đã "ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958" của Trung Quốc mà CSVN im lặng đồng lõa khi CSTQ xâm lăng Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã chiến đấu anh dũng, nhưng chiến hạm và hỏa lực yếu hơn, Hoàng Sa đành phải thất thủ. Trước hành động bạo ngược của CSTQ, bộ trưởng Ngoại giao chính phủ VNCH đã ra tuyên cáo như sau:

TUYÊN CÁO CỦA BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC ĐẢO HOÀNG SA
(Ngày 19.1.1974)

Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa của Việt Nam Cộng-Hòa, Trung cộng đã đưa Hải-quân tới khu vực Hoàng-Sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam-Tuyền, Quang-Hòa và Duy-Mộng.

Lực lượng Hải-quân Trung-Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt-Nam Cộng-Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung-Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt-Nam.

Sáng ngày nay, 19.1.1974 hồi 10h20, một hộ-tống hạm Trung-Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu vực hạm "Trần Khánh Dư" mang số HQ-04 của Việt-Nam Cộng-Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt-Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt-Nam Cộng-Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng-Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền an ninh của Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công, Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo củaTrung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay, Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.

(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa, Số 015/BNG/ TTBC/TT)

Sau đó, chính phủ VNCH ra tuyên cáo xác định chủ quyền của mình trên những quần đảo ngoài khơi bờ biển VNCH:

TUYÊN CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất từ đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.

Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.

Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974. (14)

 

7.- CỘNG SẢN VIỆT NAM NGỤY BIỆN

Sau khi CSVN cưỡng chiếm được VNCH (Nam Việt Nam) năm 1975, tỏ ra thân thiện với Liên Xô, Trung Quốc càng ngày càng gây hấn, uy hiếp Việt Nam. Chuyện công hàm năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký tên, ra trước dư luận trở lại. Năm 1977, Phạm Văn Đồng lần đầu tiên công khai biện minh cho hành động của mình như sau: "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy." (15)

Trung Quốc tiếp tục đe dọa, rồi tấn công Việt Nam năm 1979, "dạy cho Việt Nam [cộng sản] một bài học." Phải chăng "bài học" nầy liên hệ đến việc CSVN chạy theo Liên Xô, quay lưng với Trung Quốc, quên những hứa hẹn của Hồ Chí Minh khi năn nỉ Mao Trạch Đông năm 1950.

Tháng 3-1988, Trung Quốc đánh chiếm thêm một số đảo trên quần đảo Trường Sa. Công hàm Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 vốn đã bị nhiều chỉ trích, và cứ mỗi lần Trung Quốc manh động, gây hấn với Việt Nam, thì lại bị dư luận chỉ trích tiếp. Để bào chữa, cuối năm 1992, Nguyễn Mạnh Cầm, uỷ viên Bộ chính trị đảng CSVN, bộ trưởng Ngoại giao của CSVN (từ 1991 đến 2000), đã ngụy biện: "Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung Quốc đã là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc.

Đặc biệt thêm nữa là cái tuyên bố đó đã nhắm vào sự đòi hỏi cần thiết lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2/12/1992, được loan tải bởi Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3/12/1992)" (15) (In đậm do người viết.)

Đúng là theo hiệp định Genève ngày 20-7-1954, các quần đảo phía nam vĩ tuyến 17 do miền Nam Việt Nam quản trị. Dầu thuộc quyền miền Nam Việt Nam, hai quần đảo nầy do ông bà tổ tiên để lại, là của chung của dân tộc Việt Nam, nên CSVN cho rằng hai quần đảo nầy "đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam", rồi nhượng cho Trung Quốc là quá hẹp hòi, thiển cận và phản quốc.

Cũng nên thêm rằng lúc đó, năm 1958, Hoa Kỳ chỉ giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa phát triển kinh tế, chứ Hoa Kỳ chưa đem quân vào Việt Nam, nên Nguyễn Mạnh Cầm nói rằng "để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi" là hoàn toàn ngụy biện. Chỉ khi CSVN phát động chiến tranh chống miền Nam vào Đại hội III đảng Lao Động (tháng 9 năm 1960) và thành lập Mặt Trận Dân Tốc Giải Phóng Miền Nam (tháng 12-1960), đánh phá miền Nam Việt Nam, thì 5 năm sau Hoa Kỳ mới đem quân vào miền Nam Việt Nam năm 1965.

Như thế, theo lời một uỷ viên Bộ chính trị đảng CSVN tức là một nhân vật cao cấp trong đảng CSVN, chỉ vì cần viện trợ để tiến đánh miền Nam, "mục tiêu cao nhất" của CSVN, mà năm 1958 nhà nước VNDCCH đành bán đứng hai quần đảo do tổ tiên để lại cho Trung Quốc.

KẾT LUẬN

Tóm lại, sự bất ổn trên Biển Đông và Thái Bình Dương ngày nay bắt nguồn từ tham vọng về biển cả của CHNDTQ do Mao Trạch Đông đưa ra vào năm 1958: "Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó." Tham vọng nầy ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á và ảnh hưởng đến Việt Nam. Trung Quốc khó có thể thực hiện tham vọng làm chủ Đông Nam Á, nhưng hiện nay Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam trầm trọng. Khác với những lần trước, lần nầy Trung Quốc đang thực hiện kế hoặch tằm ăn dâu, lấn chiếm Việt Nam từ từ. Chẳng những chiếm đoạt các quần đảo của Việt Nam, Trung Quốc còn dùng sức mạnh để lấn đất, lấn biển, chiếm đoạt ngư trường, tài nguyên Việt Nam, thuê đất ở cao nguyên …

Từ xưa cho đến nay, giới lãnh đạo bá quyền Trung Quốc luôn luôn tìm kiếm thời cơ xâm lăng nước ta. Lần nầy nguồn gốc hiểm họa Trung Quốc chính là đảng CSVN, kẻ đã rước quân Trung Quốc vào Việt Nam, bắt đầu từ việc Hồ Chí Minh năn nỉ Mao Trạch Đông trên chuyến tàu Moscow-Bắc Kinh năm 1950. Cộng sản Việt Nam mang ơn CSTQ quá nặng. Vì vậy, CSVN chẳng những không dám chống lại Trung Quốc, mà còn phải nhịn nhục, nhượng bộ Trung Quốc nhằm trả ơn và tiếp tục bám lấy quyền lực.

Vì vậy, lần nầy muốn chống lại hiểm họa Trung Quốc, trước hết người Việt phải loại bỏ cái nguồn gốc đưa đến hiểm họa, tức phải tranh đấu giải thể chế độ CSVN, tiêu diệt kẻ nội ứng, chấm dứt những cam kết ngầm của CSVN với CSTQ. Nếu không loại bỏ căn nguyên ung nhọt nầy, CSTQ cứ dựa vào những liên hệ bí mật giữa tập đoàn lãnh đạo hai đảng, tiếp tục uy hiếp Việt Nam. Phía CSVN sẽ tiếp tục cúi đầu nhượng bộ Trung Quốc, tạo điều kiện cho Trung Quốc từ từ thâm nhập theo kiểu tằm ăn dâu, chiếm đóng Việt Nam, thì nguy cơ mất nước không còn bao xa.

Còn chuyện "Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó" do Mao Trạch Đông đưa ra, có lẽ mãi mãi là giấc mộng không thành của giới bá quyền Trung Quốc, vì Trung Quốc có thể uy hiếp Việt Nam, đe dọa vịnh Bắc Việt, nhưng ra Thái Bình Dương, Trung Quốc còn lâu mới có thể qua mặt Hoa Kỳ.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

 

9.  Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện. (trích Internet). Quần đảo Tây Sa (Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands. Quần đảo Nam Sa (Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands. Penghu = Bành Hồ. (Muốn tìm bản Anh ngữ, xin vào Google, tìm "Declaration of the Government of the Peoples's Republic of the China on the Territorial Sea".)

10.             Frank Ching, "Paracels Islands Dispute", Far Eastern Economic Review, Feb 10, 1994.(dùng tựa đề bài báo tìm trong Google). Bài báo nầy gồm nhiều mục. Đoạn nầy trích từ mục số 3. (Bản dịch của điện báo: BáochíVN.)

11.             Trương Quảng Hoa, "Quyết sách trọng đại – Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp", đăng trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Tạp chí Truyền Thông xuất bản, Montreal, 2009, tt. 45-48.

12.             Năm 1950 các tướng CSTQ là Trần Canh và Vi Quốc Thanh đến giúp Hồ Chí Minh. Sau trận Đồng Khê (tháng 9 và 10-1950), Trần Canh về Trung Quốc. Vi Quốc Thanh cùng đoàn cố vấn đông đảo ở lại giúp Hồ Chí Minh cho đến khi đánh trận Điện Biên Phủ năm 1954. (Xin xem Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Tạp chí Truyền Thông xuất bản, Montreal, 2009.)

13.             Qiang Zhai, China & The Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 47.

14.             Tập san Sử Địa, số 29. Đăng lại: http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/05/cung-oc-lai-mot-ban-tuyen-cao-anh-thep.html

15.             Frank Ching, báo đã dẫn. Bản dịch tiếng Việt trích từ điện báo BáochíVN. (Vào google tìm.)

 

DECLARATION OF THE GOVERNMENT OF THE PEOPLE'S REPUBLIC OF CHINA ON THE TERRITORIAL SEA

(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People's Congress on 4th September, 1958)

The People's Republic of China hereby announces:

(1) This width of the territorial sea of the People's Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People's Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland's coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China's territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China's inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China's inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People's Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China's territorial sea and the sky above the territorial sea.

Any foreign vessel sailing in China's territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People's Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People's Republic of China's territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People's Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China's internal affairs which should not be interfered by any foreign country.

Trích từ nguồn: http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm

Nhà sư “Thị Kính”

Nhà sư "Thị Kính"
                                                                         
                                                                                                                               VŨ THANH BÌNH - QUỐC VIỆT
 
 
                             
                               Sư Thầy Thích Chiếu Pháp với bé Tiến.
                               Câu chuyện của họ đích thực là chuyện cổ tích ở thế kỷ 21 - Ảnh: Thuận Thắng
 
Lời nói đầu.- Nhà sư trẻ nựng nịu hôn lên má "con" trước bao cặp mắt gièm pha. Có người xỉ vả "sư hổ mang" tằng tịu trai gái mà còn trơ mặt đem con về chùa. Nhiều người đã muốn đuổi sư ra khỏi chùa. Nhưng sư vẫn lặng lẽ chịu khổ nhục cưu mang "con"... Đó là một câu chuyện có thật chứ không phải sự tích "Quan Âm Thị Kính".
~~~~~~~~~~~~~~~
 
Một đêm tháng 1-2008. Trời se sắt lạnh. Chùa Thanh Tâm (xã Tân Tiến, Đồng Phú, Bình Phước) đang trầm mặc lời kinh tụng thì bất ngờ bị ngắt ngang bởi tiếng khóc oe oe của trẻ thơ. Sư thầy Phạm Minh Tâm (pháp danh Thích Chiếu Pháp) cùng mấy chú tiểu vội vã chạy ra và bất ngờ nhìn thấy một bé trai sơ sinh nằm trên cái nia bên hiên nhà thuốc nam của chùa. Vừa được thầy Tâm bế vào lòng, bé liền ngừng khóc. Lúc đó hơn 21g, trời tối đen như mực. Không ai hay biết chuyện xảy ra trước cổng chùa.
 
Tiếng khóc trước cổng chùa
Bế bé vào phòng mình, thầy lặng nghĩ không biết mình và bé có nhân quả, duyên nợ gì từ kiếp trước. Càng nghĩ thầy càng thương và nhủ lòng sẽ cưu mang bé với hi vọng ngày nào đó cha mẹ quay lại tìm con. Suốt cả đêm thầy không ngủ được. Thầy sợ bé lạnh, bé đói vì thiếu hơi ấm và sữa mẹ nên chốc chốc lại đun nước pha sữa cho bé bú...

Sáng hôm sau thầy Tâm mời các cán bộ xã Tân Tiến đến báo cáo sự việc. Rồi thầy cho người đi mua tã lót, sữa, phấn... cho bé, đồng thời gửi ngay tin lên báo đài Bình Phước xem có ai nhận con không. Nhìn rốn bé, cán bộ y tế xã cho biết bé mới 3-4 ngày tuổi. Sau một tháng không tin tức gì, thầy Tâm làm khai sinh cho bé là Phạm Minh Tiến.

"Sư thầy thương yêu bé như con, chăm lo từng li từng tí" - cô Ngân, một phật tử ở huyện Phước Long, cho biết. Mỗi đêm thầy thức đến 4-5 lần cho bé uống sữa, quấn tã... Và bé Tiến dần lớn lên khỏe mạnh, kháu khỉnh. Ở chùa nhưng bé không ăn chay. Thầy Tâm nhờ người mua thịt cá về làm thêm thức ăn cho bé, vì sợ bé suy dinh dưỡng trong giai đoạn đang lớn nhanh.

                                             

                                              
                                               Nụ cười hạnh phúc của sư thầy Thích Chiếu Pháp
                                               với cậu bé Tiến hôm bé theo cha mẹ về thăm chùa
                                               Ảnh: Thuận Thắng

Nhưng lúc này lời gièm pha cũng rộ lên. "Tại sao trong chùa lại có đứa bé được thầy Tâm nựng nịu suốt ngày? Chùa mà lại mua thịt cá? Chắc nhà sư mới 37 tuổi này đi hoang ở đâu rồi bày chuyện để nuôi con?...". Ngôi chùa cô tịch, nằm sâu hút trong vườn điều giờ không còn yên tĩnh với những đồn đại đáng sợ. Họ nói xấu thầy ngoài đường, ngoài chợ, thậm chí cả ở một số chùa khác. Nhiều tín đồ thường xuyên cúng Phật ở chùa Thanh Tâm đã quay lưng với chùa.
 
                                 
                                         Bé Tiến lúc còn được Sư Thầy Thích Chiếu Pháp nuôi dưỡng

Trong lúc đó có một cô gái xinh đẹp từ Phước Long cứ đi lại chùa để được gần gũi bé. Thế là những nghi ngờ "sư hổ mang" càng nặng nề hơn. Nó lan ra các huyện ở Bình Phước, thậm chí đến tận các địa phương xa xôi. Bao tâm nguyện, nỗ lực xây dựng chùa của thầy Tâm bỗng chốc như khói hương. Nhưng thầy vẫn lặng lẽ không giải thích, không kêu oan và ngày càng yêu thương bé Tiến hơn!

Vượt qua oan khổ
Chuyện bùng nổ vào giữa năm 2009. Bà Ngô Tuyết Sương, phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Tân Tiến, kể: "Lúc này đơn thưa đã lên Mặt trận Tổ quốc huyện, các ban ngành tỉnh. Họ làm rùm beng đến mức phải lập đoàn công tác xác minh". Cả công an cũng về chùa làm việc. "Tôi nghĩ mình không làm gì sai nên lòng vẫn thanh thản - thầy Tâm nói - Nhưng đến mức này chuyện quá căng thẳng có thể ảnh hưởng đến uy tín chung của giới tu hành. Tôi phải cam kết nếu đi thử ADN mà phát hiện điều gì thì tôi mất hết danh dự, không còn xứng đáng là nhà tu nữa".
 
Đoàn công tác họp dân để làm sáng tỏ và có văn bản trả lời người đi thưa rằng họ không có căn cứ. Nhưng chuyện vẫn chưa yên. Có lần trước mặt một nhà sư trên tỉnh về họp dân, vài người vẫn chỉ vào thầy Tâm mà nguyền rủa, phỉ nhổ.Thậm chí ngay trong chùa, ba đồng môn cũng đã bỏ ra đi vì nghi ngờ...
Bất chấp nỗi oan khổ, thầy Tâm vẫn hết lòng nuôi nấng bé Tiến.
 
Nước mắt hối lỗi
Cha mẹ bé Tiến quen nhau từ lúc còn là học sinh và hiện là sinh viên năm 3. Lúc sinh bé vào năm thứ nhất đại học, họ âm thầm bán điện thoại di động để trả viện phí. Người mẹ bị băng huyết phải cấp cứu nhưng vẫn không dám báo gia đình. Người cha đi xe máy chở bé từ TP.HCM về Bình Phước đặt trước cổng chùa, rồi núp nhìn cho đến lúc thấy thầy bế bé vào. Khi nhận lại con, cả hai đã bật khóc hối lỗi trước con và thầy Tâm.
 
Nước mắt nhà sư
Đến tháng 9-2009, một người biết chuyện cha mẹ bé Tiến vì hoàn cảnh mà gửi con mình lên chùa nên đã báo ông bà nội bé. Ông bà đến chùa ngay và sững sờ: "Lúc đó tôi bị sốc - bà nội bé cho biết - vì mới nhìn thấy lưng bé tôi biết ngay là cháu mình. Nó giống con trai tôi như đúc". Gia đình hồi hộp, cảm động. Còn thầy Tâm cũng rất xúc động khi trả bé: "Chỉ nhìn cách họ âu yếm bé, tôi linh cảm cháu đã tìm được đúng cha mẹ, ông bà!". Đến giờ thầy Tâm vẫn rơm rớm nước mắt kể rằng thầy vừa vui vừa buồn lúc trả bé. Thầy vui khi bé đã được người ruột thịt yêu thương. Nhưng thầy cũng buồn vì thầy và bé đã quấn quýt bên nhau như cha con gần hai năm.
 
                                        
                                          Cha mẹ bé Tiến chụp hình lưu niệm với sư thầy Thích Chiếu Pháp
                                           trong ngày vui nhận con .

Ngày bé Tiến về gia đình được tổ chức đúng vào lễ Vu lan báo hiếu năm nay. Bà Lan, người dân ở xã, cho biết: "Trời Phật ơi, đời tôi chưa bao giờ được chứng kiến lễ Vu lan cảm động như thế!". Hơn 1.000 người tới ngôi chùa nhỏ chứng kiến. Ông nội bé Tiến nói lời biết ơn chân thành với nhà sư Minh Tâm, nhất là nỗi oan thầy phải gánh. Chỉ thế thôi mà gây xúc động bao người. Lễ Vu lan cũng là lễ giải oan cho thầy. Nhiều người ngày trước nói xấu thầy giờ đã bật khóc!

Rồi cũng chính thầy hết lòng giúp làm đám cưới cho cha mẹ bé. Đó là điều kiện thầy buộc họ phải thực hiện khi nhận con. Thầy lo về sau họ không ở với nhau thì bé sẽ khổ.

                                  
                                   Và nỗi nhớ của sư thầy khi còn đó những chiếc gối, những vỏ hộp sữa ngày nào
                                   của bé Tiến - Ảnh: Thuận Thắng

Giờ đây căn phòng đơn sơ ở chùa chỉ còn lại mấy chiếc gối nhỏ và những vỏ hộp sữa nuôi trẻ xếp bên tường. Nhà sư trẻ bùi ngùi: "Nhớ những đêm trong phòng chỉ có thầy trò với nhau, bé cứ bò qua lại trên người tôi nói bi bô. Khi bé biết đi, thấy tôi đi đâu về cũng chạy ra ôm và kêu to sư phụ, sư phụ". Giờ đây căn phòng chỉ còn lại mình thầy.

Tâm sự đời mình thầy Tâm rất kiệm lời. Thầy chỉ kể quê nghèo của mình ở Vĩnh Long và từng là sinh viên ĐH Ngân hàng TP.HCM nhưng đến năm thứ tư thì thôi học để xuất gia. Thầy trụ trì chùa Thanh Tâm được mười năm...

                                              

                                              
                                                   Sư Thầy nựng nịu, cõng bé chạy loanh quanh dưới hàng tượng Phật.
                                                   Bé bi bô, nghịch ngợm đầu thầy.
 
Buổi chiều, nắng vàng loang ngoải sân chùa. Thầy xin đón bé Tiến từ nhà ông bà nội về chơi cho đỡ nhớ. Thầy nựng nịu, cõng bé chạy loanh quanh dưới hàng tượng Phật. Bé bi bô, nghịch ngợm đầu thầy. Tiếng cười hồn nhiên vang vọng sân chùa.

Nhìn hai chiếc bóng quấn quýt bên nhau mà càng hiểu lòng thầy: "Mỗi người chúng ta đều có thể mang nhân quả, liên kết với nhau từ bao kiếp trước. Hãy lấy tình yêu thương mà bước qua sự khổ đau, oán hận...".

 
VŨ THANH BÌNH - QUỐC VIỆT

                                                                          ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

                                          Quán Âm Thị Kính Việt Nam 
 
Qua câu chuyện Nhà Sư Thị Kính xảy ra tại tỉnh Bình Phước, Thi Sĩ Mặc Giang đã viết 2 bài ''Quán Âm Thị Kính Việt Nam 1&2'', đã được phổ thành Tân nhạc và Vọng cổ.

Xin mời nghe lại câu chuyện ghi dưới đây do các nghệ sĩ trình bày:

                * Nhà Sư Thị Kính Việt Nam #1: thơ của Mặc Giang,
                                                                 nhạc: Kiều Tấn Minh, Ca Sĩ Hiếu Nhi trình bày
                                                                       LỜI    -   NHẠC 

                *Nhà Sư Thị Kính Việt Nam #2: thơ của Mặc Giang,
                                                                 nhạc: Hoàng Đặng, Ca Sĩ Thanh Danh trình bày
                                                                                         LỜI    -   NHẠC 
 
                   *Ca vọng cổ Quán Âm Thị Kính Việt Nam 
                                                          thơ Mặc Giang - nhạc Quang Nhã - Nghệ sĩ Công Nghĩa
 
 
                                                                

Còn níu kéo gì, khi tên đế quốc cộng sản Đại Hán đã trút bỏ cái mặt nạ "anh em", "đồng chí"?

Còn níu kéo gì, khi tên đế quốc cộng sản Đại Hán

đã trút bỏ cái mặt nạ "anh em", "đồng chí"?

Vũ Cao Đàm

imageTrắng trợn thực hiện những vụ vi phạm lãnh hải và những đòn gây hấn trong mấy tuần vừa qua với Việt nam, đế quốc cộng sản Đại Hán (Trung Cộng) đã tự lột bỏ cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa "anh em", "đồng chí"... "mười sáu chữ vàng".

Bằng những hành động ngang ngược giương đông kích tây, mua đất thuê rừng và chiếm lĩnh thị trường khắp thế giới, lấn lướt xưng hùng xưng bá ở biển Đông, Trung Cộng không chỉ tự ném vào sọt rác cái vỏ bọc "trỗi dậy hòa bình", mà ngày càng phát xít hóa một cách ngông cuồng, đang hung hãn thực hiện mưu đồ bành trướng vừa theo kiểu xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, vừa thâm nhập thị trường theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới, vừa vẫn cố đeo bám cái mặt nạ ý thức hệ "anh em đồng chí" của cái "chủ nghĩa quốc tế vô sản" "mười sáu chữ vàng" để lừa mị những tín đồ cộng sản ngây thơ, cả tin, nhẹ dạ.

Với Việt Nam, bọn đế quốc cộng sản Trung Hoa đã không ngừng tiếp tục cái mộng bá vương của các bậc tiền nhân Đại Hán, mà ngày càng tỏ ra ác hiểm hơn, thù địch hơn, hằn học hơn, với những thủ đoạn ngày càng thâm độc, hèn hạ, đê tiện và tiểu nhân gấp bội so với tất cả các thế hệ Đại Hán tổ tiên của họ. Có lẽ họ muốn trút hết sự hằn thù của cả ngàn năm thất bại trong mưu đồ biến mảnh đất Giao Chỉ này thành thuộc quốc, muốn Hán hóa dân Lạc Việt trên mảnh đất này.

Mưu đồ thâm hiểm của đế quốc Trung Cộng với Việt Nam được thể hiện một cách toàn diện và triệt để trên moi lĩnh vực, kinh tế, quân sự, chính trị, ngoại giao.

Về mặt kinh tế, chúng không thực hiện hợp tác kinh tế nghiêm túc trong khuôn khổ các nghị định thư, mà lén làm ăn theo con đường tiểu ngạch để triệt phá kinh tế Việt Nam một cách toàn diện trên toàn lãnh thổ, tôi chỉ xin nhắc lại vài sự kiện mà mọi người đều đã biết [1]-[7]:

Đế quốc Trung Cộng ra sức triệt phá sức kéo của nông dân nghèo bằng việc mua móng trâu để nông dân giết trâu bán móng, bây giờ chúng không mua móng trâu nữa, mà giở trò mua... "đuôi trâu" với giá cực kỳ hời. Nông dân cắt đuôi trâu mang bán thì trâu thi nhau lăn ra chết.

Chúng triệt phá nguồn sống của nông dân nghèo với thủ đoạn mua râu ngô non, để biến thành đồng hoang những nương ngô vừa đến ngày đơm hoa kết trái; chúng triệt hạ nguồn cây nguyên liệu công nghiệp, như mua rễ hồi và các cây công nghiệp để nông dân tự tay chặt phá rừng hồi và các cây công nghiệp, mua chè chặt xô phơi tái không qua chế biến, để triệt phá nguồn nguyên liệu của các nhà máy chè.

Chúng nghĩ ra trò nham hiểm để phá hoại mạng điện cao thế của Việt Nam bằng việc mua dây đồng vụn, và thế là các "đồng tặc" rủ nhau cắt trộm dây đồng trên mạng điện cao thế... Chúng tìm đủ mưu ma chước quỷ để "thắng thầu"... tới 90% số công trình công nghiệp quan trọng của Việt Nam, trước hết là các nhà máy điện, rồi trì hoãn thực thi nhằm phá hoại kế hoạch hiện đại hóa và công nghiệp hóa của Việt nam.

Đế quốc cộng sản Tàu đã và đang ra sức phá hoại các nguồn hàng xuất khẩu của Việt nam, bằng những hợp đồng mua nông sản giá hời, đến khi nông dân và các doanh nghiệp Việt Nam tập trung sức sản xuất cho chúng, thì chúng đột ngột ngừng nhập các mặt hàng đó để các doanh nghiệp Việt Nam điêu đứng. Ngày nay, bọn chúng đang dốc sức tận diệt nguồn gạo xuất khẩu bằng những hợp đồng giá hời với nông dân Nam Bộ phá lúa trồng khoai. Đây không phải thủ đoạn mới, vì họ đã từng mua tôm, tẩm kháng sinh quá liều rồi bán lại cho Việt Nam với giá rẻ, để Việt Nam nhập lại và tái xuất để tự mình phá hoại thương hiệu tôm xuất khẩu. Đáng tiếc rằng, các phương tiện thông tin "lề phải" của Đảng và thậm chí cả một vài nhà khoa học ngây thơ đã "Cảm ơn thương nhân Trung Quốc" đã "Mở đầu ra" cho nông dân Việt Nam và từ chối đăng những ý kiến cảnh báo cho nguy cơ này của chúng…

Tệ hại hơn, đế quốc Trung Cộng đã trắng trợn phá hoại huyết mạch thông tin viễn thông bằng việc thu mua cáp quang "phế liệu" xúi giục người dân Việt Nam lặn xuống biển tự tay phá hoại mạng cáp quang để chặn đứng khả năng liên lạc của đất nước.

Về mặt quân sự, chúng diễu võ giương oai trên khắp thế giới, liên tục tập trận xung quanh Việt Nam, cho các trang mạng thuộc quyền thao túng của Đảng Cộng sản hăm dọa chiến tranh với Việt Nam. Bằng chiêu bài "hợp tác khai thác bô-xít", đế quốc Trung Cộng đã đóng chốt ở một vùng vô cùng hiểm yếu của bán đảo Đông Dương, cộng với những hợp đồng thuê 300.000 ha đất rừng đầu nguồn với các "đồng chí" của họ tại các địa phương trên suốt các vùng biên giới, Trung Cộng đã tạo ra một thế quân sự vô cùng nguy hiểm có khả năng làm tê liệt khả năng phản công bảo vệ Tổ Quốc của Việt Nam khi bị Trung Cộng tấn công từ bốn phía. Chúng ta không quên cộng thêm một bầy nhung nhúc gồm trên 1,3 triệu người lao động Trung Cộng, gồm những tráng đinh (chắc chắn đã giải ngũ sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự). Bọn chúng được được các "đồng chí" sắp xếp đều khắp đủ mọi miền trên đất Việt Nam đã tạo ra một đạo quân dự bị khổng lồ, cầm súng là bắn được ngay, đang mai phục khắp đất nước này.

Trong khi đó, Trung Cộng ra sức la ó "nguy cơ Việt Nam", vu cáo Việt Nam xâm lược.

Về mặt chính trị, Trung Cộng ra sức tâng bốc Việt Nam về ý thức hệ, vuốt ve bằng mấy chữ "Đồng chí tốt", và "Mười sáu chữ vàng", nhưng chúng đã không úp mở để lộ dã tâm, càng tô vẽ Việt Nam về ý thức hệ, chúng càng tạo ra được sự cô lập của Việt Nam trên trường quốc tế, vì chúng thừa biết, từ nửa cuối thế kỷ XX, thế giới đã ghê sợ các chính thể cộng sản. Càng tô vẽ bộ mặt cộng sản của Việt Nam, thế giới càng ghê sợ Việt Nam.

Tôi đã dịch một bài sặc mùi hiếu chiến của Trung Cộng đe dọa Việt Nam. Tôi thiết nghĩ, chỉ cần đưa bài đó lên mặt báo, không cần bình luận, tất cả mọi người Việt yêu nước thương nòi đều nhìn rõ dã tâm vừa ăn cướp vừa la làng của bọn đế quốc xâm lược cộng sản Đại Hán, bất kể chúng cố che đậy bằng thứ mặt nạ "lá nho" nào. Nay xin trích lại để bạn đọc cùng suy ngẫm:

.........

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philippines thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ , Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái Lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ "phê phán, phản đối". Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.

Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiện chiến lược "Dùng đất đai đổi lấy hòa bình". Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược "Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai". Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm "chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích" thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philippines, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.

Hãy giết chết bọn giặc Việt để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.

... (Hết trích)

Với những tư liệu còn quá thiếu sót đó người dân Việt Nam đã thấy rất rõ dã tâm của Trung Cộng. Chúng đã thực sự lộ nguyên hình một tên đế quốc xâm lược tệ hại nhất so với tất cả các đế quốc đã từng có mặt ở Việt Nam, và so với ngay cả các triều đại Trung Hoa đã đặt ách cai trị trên đất Việt Nam.

Tôi cứ phân vân suy nghĩ, không hiểu một số người Việt Nam còn nuối tiếc gì mà cứ phải níu kéo cái bọn gian manh Đại Hán... miệng nam mô "đồng chí", nhưng bụng thì chứa một bồ dao găm hiểm độc. Chủ nghĩa cộng sản, mà hiện thân là quốc gia cộng sản khổng lồ Đại Hán, leo lẻo trên mồm những điều ngọt xớt, nhưng lại hành xử bằng những thủ đoạn của bọn giang hồ thảo khấu, đã phơi bầy trên thực tế không còn như Lênin kỳ vọng: "trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại chúng ta" như một số người vẫn còn ảo tưởng, mà thực sự đã và đang là bi kịch vô cùng lớn lao của nhân loại.

Tôi tin rằng, có thể vì lý do gì đó, một số người còn xưng tụng cái tình đồng chí cộng sản "Bốn tốt" và "Mười sáu chữ vàng"; Vì lý do gì đó, họ còn cản trở những cuộc biểu tình chống lại "người đồng chí" đế quốc cộng sản xâm lược, nhưng tôi tin chắc rằng, cũng có lúc trong thâm tâm của họ vấn còn cảm thấy nhói đau cái nỗi đau của dân tộc đang bị tên đế quốc cộng sản Đại Hán dày xéo non sông.

Tôi hy vọng lương tri của những người đó sẽ thức tỉnh để quay về với dân tộc đang đứng trước nguy cơ mất còn trước tên đế quốc xâm lược nguy hiểm nhất của thời đại chúng ta, là chủ nghĩa cộng sản Đại Hán.

V.C.Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/con-niu-keo-gi-khi-ten-e-quoc-cong-san.html

Tài liệu tham khảo:

[1] http://hoingo.aimoo.com/categroy/Topic-1-445805.html#NickName_0

[2] http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/31806/chuyen-bo-lua-trong-khoai-cho-thuong-gia-tq.html

[3] http://dantri.com.vn/c76/s76-496615/vai-thieu-viet-nam-un-un-xuat-sang-trung-quoc.htm

[4] http://vef.vn/2011-07-08-bat-luc-nhin-trung-quoc-vet-hang

[5] http://sgtt.vn/Thoi-su/147433/Bat-ngo-tu-viec-Trung-Quoc-san-lung-nong-san-Viet-Nam.html

[6] http://dantri.com.vn/c76/s76-498216/thit-lon-rau-tang-gia-bat-thuong-vi-dau.htm

[7] http://www.giaoduc.net.vn/ntd-thong-thai/47-thi-truong/8070-hanh-ng-nh-dng-y-ln-ca-trung-quc-bai-2-bc- check-nhe.html

[8] http://www.cnweapon .com/html/ news/2010- 01/news14304. html

[9] http://club.china.com/

Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc?

Nguồn: "未来50年中国的六场战争:彻底打破世界格局"

Nguồn gốc : http://www.mitbbs.com/article_t/MiscNews/31207047.html

Trần Quang giới thiệu

Đây là bài trên trang China News về 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc sẽ phát động trong 50 năm tới. Sau khi dùng vũ lực thống nhất với Đài Loan thì mục tiêu tiếp theo là phát động chiến tranh để thu hồi các đảo ở Biển Đông.

Trung Quốc là một nước lớn chưa thống nhất, đây là nỗi nhục của dân tộc Hoa Hạ, là nỗi hổ thẹn của con cháu Viêm Hoàng để thống nhất đất nước và sự tôn nghiêm của dân tộc, trong vòng 50 năm tới, Trung Quốc cần phải tiến hành 6 cuộc chiến tranh.

Cuộc chiến tranh thứ nhất : Thống nhất Đài Loan (giai đoạn 2020 - 2025)

Mặc dù, quan hệ hai bờ hiện nay đang có xu hướng đi vào hòa hoãn, nhưng đừng hy vọng nhà đương cục Đài Loan (cho dù là Quốc dân đảng hay Dân tiến đảng) muốn thống nhất hòa bình với Trung Quốc đại lục, vì điều này không phù hợp với lợi ích tranh cử của đảng cầm quyền tại Đài Loan, cho nên trong thời gian dài sẽ tiếp tục nêu chủ trương giữ nguyên hiện trạng với Trung Quốc đại lục (như vậy đều có lợi cho hai đảng, Dân Tiến đảng hung hăng một chút, Quốc Dân đảng hòa hoãn một chút, cả hai đều giành được lợi ích chính trị trên chính trường Đài Loan), "độc lập" nhưng không dám "độc lập" thật sự, chỉ có thể kích động dư luận để kiếm lợi, trong khi đó "thống nhất" cũng sẽ là không "thống nhất" thật sự, chỉ có thể là đề cập chung chung. Đài Loan không thống nhất, đây là một tổn thương lớn nhất của Trung Quốc.

Cho nên trong 10 năm tới, tức trước năm 2020, Trung Quốc cần phải nắm cho được phương châm chiến lược thống nhất, tuyên bố trước Đài Loan về thời hạn cuối cùng để thống nhất đất nước là năm 2025, hoặc là Đài Loan chấp nhận thống nhất hòa bình (đây là kết quả mà toàn thể người Hoa trên khắp thế giới mong đợi), hoặc là phải sử dụng vũ lực để thống nhất (đây là sự lựa chọn duy nhất mà Trung Quốc đại lục buộc phải làm). Để thống nhất, Trung Quốc phải làm tốt công tác chuẩn bị từ 3 đến 5 năm (thời điểm này, Trung Quốc hoàn toàn có đủ thực lực quân sự để thống nhất Đài Loan, như hàng không mẫu hạm của Trung Quốc chính thức được đưa vào biên chế, máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 4 được hoàn thiện…), khi thời điểm đến, cho dù là sử dụng phương thức thống nhất như thế nào, Trung Quốc vẫn nhất định phải thống nhất, đây là một sứ mệnh lịch sử của dân tộc Hoa Hạ.

Theo phân tích tình hình hiện nay, Đài Loan tất sẽ cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc đại lục duy nhất chỉ có con đường sử dụng vũ lực để thống nhất. Cuộc chiến tranh thống nhất này là một cuộc chiến tranh đích thực mang ý nghĩa hiện đại hoá kể từ sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, là một cuộc chiến tranh kiểm nghiệm toàn diện sức chiến đấu hiện đại hoá của quân đội Trung Quốc. Trong cuộc chiến này, Trung Quốc có thể dễ dàng giành chiến thắng, nhưng cũng có thể sẽ gian nan giành chiến thắng. Tình hình này phụ thuộc vào quyết định tham chiến của Mỹ, Nhật Bản đối với Đài Loan. Mỹ, Nhật Bản viện trợ cho Đài Loan, thậm chí xuất quân phản công Đại lục, Trung Quốc buộc phải sử dụng tổng lực để đối kháng Mỹ, Nhật Bản, như vậy sẽ trở thành cuộc đại chiến gian khổ và kéo dài. Nếu Mỹ, Nhật Bản không dám đối kháng với Trung Quốc, để Trung Quốc đại lục thu hồi Đài Loan, quân đội Đài Loan đương nhiên không thể chống đỡ, nhiều nhất là 3 tháng là có thể kiểm soát hoàn toàn Đài Loan.

Mặc dù hiện nay ai cũng cho là Trung Quốc có đủ khả năng chống lại các thế lực can thiệp, nhưng trước khi thu hồi Đài Loan, tốt nhất là tiến hành bố trí thế cục, để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến, như vậy Trung Quốc mới có thể thần tốc đánh chiếm Đài Loan. Vậy phải bố trí thế cục như thế nào để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến? Tốt nhất là gây ra một, hoặc hai cuộc chiến tranh trước đó, ví dụ như chiến tranh Ixraen-Iran, chiến tranh Nga-Nhật, chiến tranh Ấn Độ-Pakixtan, hay đối đầu giữa hai miền Triều Tiên, như vậy Mỹ, Nhật Bản khó có thể kịp thời hoặc không dám tham chiến.

Đương nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, cuối cùng Trung Quốc đều giành chiến thắng, đây là điều không phải nghi ngờ. Nhưng khác biệt ở chỗ, nếu Mỹ, Nhật Bản tham chiến, nguyên khí kinh tế của Trung Quốc sẽ bị tổn thương nặng nề; nếu Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không tham chiến, kinh tế của Trung Quốc sẽ không bị tổn thất. Tuy nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, về mặt quân sự, Trung Quốc sẽ có bước phát triển mang tính nhảy vọt. Vì sau khi thống nhất Đài Loan, hợp nhất kỹ thuật quân sự của Đài Loan, trong vòng từ 5 đến 10 năm, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc sẽ có bước phát triển vượt bậc.

Trong cuộc chiến này, Mỹ không tham chiến còn có thể giữ được địa vị độc bá của mình, một khi tham chiến, địa vị độc bá tất bị lung lay. Sau khi bị tổn thất nặng nề trong cuộc chiến này, địa vị bá chủ thế giới của Mỹ sẽ bị các nước nghi ngờ, đặc biệt là các nước nhỏ Đông Nam Á, đối diện với một Trung Quốc láng giềng hùng mạnh, buộc các nước này không thể không tính toán lại xem đi theo hướng nào, đi theo ai. Mỹ không tham chiến còn có thể duy trì địa vị bá chủ thế giới khoảng 40 năm nữa, trong 40 năm này, Trung Quốc sẽ không có cớ thách thức bá quyền của Mỹ, Trung Quốc chỉ có thể tiếp tục chuyên tâm vào sự nghiệp thống nhất đất nước.

Điểm có lợi nhất của cuộc chiến thống nhất Đài Loan là Trung Quốc đã phá vỡ chuỗi đảo bao vây thứ nhất của Mỹ, để hướng ra Thái Bình Dương, như vậy Trung Quốc từ đó có thể tiến quân ra đại dương, mở rộng lợi ích thiết thân của Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh thứ hai: Thu hồi các đảo tại Biển Đông (giai đoạn 2025-2030)

Sau khi Trung Quốc thống nhất Đài Loan, nghỉ ngơi chỉnh đốn nhiều nhất là 2 năm, trong khoảng thời gian này Trung Quốc tuyên bố với các nước có tranh chấp tại Biển Đông về thời hạn cuối cùng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo là năm 2028, tất cả các nước có thể đàm phán với Trung Quốc trong khoảng thời gian này. Trung Quốc sẽ xuất phát từ quan điểm láng giềng hữu nghị và phong cách nước lớn, Trung Quốc còn có thể bảo đảm một phần lợi ích kinh tế của các nước xung quanh đã đầu tư vào các đảo ở Biển Đông, nếu không Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo, đồng thời tịch thu toàn bộ lợi ích kinh tế, cũng như các khoản đầu tư trên các đảo này.

Cuộc chiến tranh thứ ba: Thu hồi Nam Tây Tạng (giai đoạn 2035-2040)

Hai mươi năm sau, mặc dù thực lực quân sự của Ấn Độ không bằng Trung Quốc, nhưng khi đó cũng sẽ là một trong số không nhiều nước lớn trên thế giới, vì vậy "đá chọi với đá" chắc chắn sẽ chịu nhiều tổn thất, cho nên tác giả cho rằng tốt nhất là ngay từ bây giờ Trung Quốc phải tìm mọi cách khiến Ấn Độ bị chia cắt thành mấy nước nhỏ, để Ấn Độ không còn sức đối kháng với Trung Quốc, tuy nhiên sách lược chia cắt Ấn Độ không chắc chắn thực hiện được, nhưng ở mức độ thấp nhất cũng phải làm cho bang Assam tiếp giáp với Nam Tây Tạng (Ấn Độ gọi là bang Arunachal Pradesh) và Sikkim bị Ấn Độ xâm chiếm được độc lập, làm suy yếu thực lực của Ấn Độ trong đối kháng với Trung Quốc, như vậy mới là thượng sách.

Trung sách là chuyển một lượng lớn vũ khí quân sự tiên tiến sang Pakixtan, trong khoảng thời gian năm 2035, ngầm giúp Pakixtan tấn công khu vực phía Nam Casơmia của Ấn Độ, giúp đỡ Pakixtan hoàn thành đại nghiệp thống nhất lãnh thổ. Tất nhiên, trong khi Ấn Độ và Pakixtan chưa thể kết thúc chiến tranh, Trung Quốc thần tốc tấn công Ấn Độ thu hồi khu vực Nam Tây Tạng bị chiếm đóng. Ấn Độ sẽ không thể cùng lúc tác chiến với hai cuộc chiến tranh, kết cục đều gặp thất bại, như vậy Trung Quốc có thể dễ dàng lấy lại khu vực Nam Tây Tạng, Pakixtan cũng có thể hoàn thành việc kiểm soát hoàn toàn Casơmia. Đây là trung sách, là một biện pháp hay có thể thực hiện. Nếu tất cả các sách lược trên đều không thể thực hiện, Trung Quốc có thể tấn công trực diện Ấn Độ để thu hồi Nam Tây Tạng.

Sau khi kết thúc cuộc chiến tranh thứ nhất và thứ hai, Trung Quốc đã có thời gian khôi phục và tiếp tục phát triển trong vòng 10 năm, khi đó Trung Quốc đã là cường quốc mang tầm thế giới cả về kinh tế lẫn quân sự, duy chỉ có Mỹ và châu Âu là có thể xếp trên Trung Quốc (thời điểm đó nhiều khả năng châu Âu sẽ hoàn thành nhất thể hoá). Vì vậy, sau khi thống nhất Đài Loan và thu hồi các đảo tại Biển Đông, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc đã có bước phát triển nhạy vọt, các trang thiết bị vũ khí hải, lục, không quân và vũ trụ đều có bước tiến dài, nhiều kỹ thuật quân sự ở vào trình độ dẫn đầu thế giới, khi đó sức mạnh quân sự của Trung Quốc chỉ có thể xếp sau Mỹ. Với thực lực như vậy, trong cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, Ấn Độ chắc chắn chịu một cuộc đại bại. Thứ nhất, sức mạnh tổng hợp của Ấn Độ yếu hơn nhiều so với Trung Quốc. Ấn Độ không có khả năng nghiên cứu, phát triển cũng như độc lập sản xuất các loại vũ khí mũi nhọn kỹ thuật cao. Năng lực động viên kinh tế cho thời chiến của Ấn Độ không bằng 1/10 của Trung Quốc, cho nên trong cuộc chiến với Trung Quốc, Ấn Độ không thể duy trì chiến tranh lâu dài, trong khi đó khả năng chiến tranh thần tốc của Ấn Độ lại kém xa so với Trung Quốc, vì vậy trong cuộc chiến này, Ấn Độ thất bại là điều không phải nghi ngờ. Thứ hai, trong cuộc chiến này, tuyệt đối không có quốc gia nào dám công khai giúp đỡ Ấn Độ. Khi đó, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới, không có nước nào (kể cả Mỹ) dám công khai coi Trung Quốc là kẻ thù, nhiều khả năng nhất chỉ có 3 nước là Mỹ, Nga, Nhật Bản sẽ ngấm ngầm cung cấp vũ khí cho Ấn Độ, nhưng động thái này sẽ không gây ra những vấn đề lớn; ngược lại Pakixtan có thể nhân cơ hội này tấn công Ấn Độ. Thứ ba, Ấn Độ không dám và không thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Mặc dù nói Ấn Độ đã có vũ khí hạt nhân, nhưng trong cuộc chiến này, Ấn Độ không dám sử dụng vũ khí hạt nhân, vì vũ khí hạt nhân của Ấn Độ không đủ để huỷ diệt Trung Quốc; đã không thể huỷ diệt, một khi sử dụng, khả năng phản kích của Trung Quốc có thể huỷ diệt vĩnh viễn Ấn Độ. Sau khi thu hồi Nam Tây Tạng, Trung Quốc sẽ đóng trọng binh tại đây, Ấn Độ sẽ không dám phản công, cuối cùng phải thừa nhận là lãnh thổ của Trung Quốc, đồng thời tích cực triển khai hợp tác với Trung Quốc, như vậy vẫn có thể bảo toàn thực lực nước lớn tại khu vực.

Cuộc chiến tranh thứ tư: Thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (giai đoạn 2040 - 2045)

Thời điểm đến giữa thế kỷ 21, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới thật sự, khi đó Nhật Bản, Nga suy yếu; Mỹ, Ấn Độ không phát triển, Trung Quốc và châu Âu đồng thời nổi lên, là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (Nhật Bản gọi là Okinawa) bị Nhật Bản chiếm đóng.

Nói tới đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu, có lẽ nhiều người chỉ biết rằng đảo Điếu Ngư là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc, nhưng lại không biết Nhật Bản đã xâm chiếm Lưu Cầu. Hiện nay, bất luận là trong diễn đàn nhân dân hay cấp trung ương, khi đề cập đến vấn đề Đông Hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đề cập đến cái gọi là "đường trung tuyến" do Nhật Bản hoạch định, hay vấn đề Lưu Cầu, đều bị Nhật Bản dẫn giải sai lầm về lịch sử và chính trị - tức cho rằng Lưu Cầu là lãnh thổ của Nhật Bản.

Nhật Bản đã xâm chiếm đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu của Trung Quốc nhiều năm qua, đánh cắp phi pháp nhiều tài nguyên tại Đông Hải của Trung Quốc, vì vậy đây sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại từ tay Nhật Bản. Vì thời điểm đó Mỹ muốn can dự cũng khó, châu Âu càng không quan tâm đến vấn đề này, trong khi đó Nga cũng chỉ có thể ngồi nhìn. Nhiều nhất là trong vòng nửa năm, cuộc chiến có thể kết thúc, Trung Quốc đại thắng, Nhật Bản đành phải thừa nhận kết cục thất bại - đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu trở về vô điều kiện với Trung Quốc. Đông Hải trở thành nội hải của Trung Quốc.

Cuộc chiến tranh thứ năm: Thống nhất Ngoại Mông (giai đoạn 2045 - 2050)

Mặc dù, hiện nay có người cổ vũ Ngoại Mông (Mông Cổ) trở về Trung Quốc, nhưng điều này có hiện thực không?

Trung Quốc chỉ có thể sau khi thống nhất Đài Loan, lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ. Như vậy sẽ có người hỏi, vì sao phải lấy hiến pháp và bản đồ Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ? Làm như vậy khác nào nói Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bị Trung Hoa Dân Quốc thống nhất? Nói như vậy không có gì vô nghĩa cả, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc cũng là Trung Quốc, không cần quan tâm ai thống nhất ai, làm người Trung Quốc, chỉ cần tổ quốc thống nhất, không bị làm nhục là tốt nhất. Cũng phải biết rằng hiện nay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thừa nhận nền độc lập của Ngoại Mông, nếu lấy hiến pháp và bản đồ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa làm căn cứ để thống nhất Ngoại Mông, thì rõ ràng đây là hành động đi xâm lược, cho nên chỉ có thể lấy hiến pháp và bản đồ của Trung Hoa Dân Quốc làm căn cứ để tiến hành thống nhất Ngoại Mông, như vậy xuất quân mới danh chính ngôn thuận. Trung Quốc cần đề xuất đại cương thống nhất với Ngoại Mông, tạo dựng bầu không khí dư luận xã hội Ngoại Mông trở về Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm những tộc người tại Ngoại Mông có mong muốn sáp nhập vào Trung Quốc để ra sức giúp đỡ, cố gắng để họ có thể tiếp cận tới tầng lớp có quyền quyết sách, nhằm chuẩn bị tốt cho sự nghiệp thống nhất Ngoại Mông. Bên cạnh đó, sau khi thu hồi Nam Tây Tạng (dự kiến vào năm 2040) Trung Quốc cũng phải tuyên bố với các nước trên thế giới rằng Ngoại Mông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Đương nhiên, Ngoại Mông có thể ra điều kiện để trở về, như vậy là điều tốt nhất so với việc phải sử dụng vũ lực để thống nhất. Nếu thế lực bên ngoài can dự hoặc Ngoại Mông cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc cần phải làm tốt mọi sự chuẩn bị về trang bị vũ khí nhằm thống nhất Ngoại Mông. Tài liệu cho rằng Trung Quốc vẫn có thể áp dụng mô hình như đã thống nhất Đài Loan, đưa ra thời hạn cuối cùng để thống nhất là vào năm 2045, để Ngoại Mông có thời gian mấy năm suy nghĩ, khi đến thời điểm nếu không chủ động chấp nhận trở về, cuối cùng mới sử dụng vũ lực thống nhất.

Tới thời điểm đó, 4 cuộc chiến tranh đã kết thúc, Trung Quốc đã có đầy đủ thực lực về chính trị, quân sự và ngoại giao để thống nhất Ngoại Mông. Mỹ, Nga suy yếu sẽ không dám tham chiến, chỉ có thể tiến hành phản đối bằng ngoại giao, trong khi đó châu Âu sẽ giữ thái độ nước đôi, Ấn Độ không lên tiếng. Không đến 3 năm, Trung Quốc có thể hoàn thành thống nhất mang tính tuyệt đối đối với Ngoại Mông. Sau khi thống nhất Ngoại Mông, tuyến đầu sẽ bố trí trọng binh nhằm ngăn chặn Nga, đồng thời trong vòng 10 năm, ra sức tiến hành xây dựng mang tính nền tảng và thiết bị quân sự, để chuẩn bị cho sau này tiến hành thu hồi lãnh thổ do Nga xâm chiếm.

Cuộc chiến tranh thứ sáu: Thu hồi lãnh thổ bị Nga xâm chiếm (giai đoạn 2055 - 2060)

Hiện nay, Trung-Nga được coi là láng giềng hữu nghị, song chẳng qua là vì có cùng mục tiêu chống Mỹ, thực chất vẫn tồn tại sóng ngầm và cảnh giác lẫn nhau.

Sau khi giành thắng lợi trong 5 cuộc chiến tranh trước đó (khoảng năm 2050), Trung Quốc phải lên tiếng đòi Nga phải trả lại lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc từ đời nhà Thanh, tạo dư luận trên toàn thế giới có lợi cho Trung Quốc, nhưng tốt nhất là khiến Nga một lần nữa bị giải thể, tách thành nhiều nước nhỏ.

Trước đây, Nga đã xâm chiếm tổng cộng khoảng 1,6 triệu km2 lãnh thổ của Trung Quốc, tương đương 1/6 tổng diện tích lãnh thổ lục địa của Trung Quốc hiện nay, Nga vẫn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Trung Hoa, cho nên sau khi kết thúc 5 cuộc chiến tranh trước, sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại lãnh thổ bị Nga xâm chiếm từ đời Thanh.

Mặc dù thời điểm này các phương diện về hải, lục, không quân và vũ trụ của Trung Quốc đã vượt Nga, nhưng rõ ràng đây là một cuộc chiến tranh nhằm vào một cường quốc hạt nhân, cho nên lúc đó Trung Quốc phải huy động mọi khả năng hạt nhân, như các loại vũ khí có khả năng đánh chặn hạt nhân tầm xa, tầm trung và tầm ngắn. Khả năng Nga đánh trả khi tiếp cận Trung Quốc là không thể, vì vào thời điểm này Nga đã không còn là đối thủ của Trung Quốc, chỉ có thể chấp nhận trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc, nếu không cái giá phải trả là quá đắt.

Sau khi kết thúc 6 cuộc chiến tranh, Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế và quân sự duy nhất trên thế giới, Trung Quốc cùng với châu Âu, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, châu Phi và Braxin thiết lập trật tự thế giới mới do Trung Quốc chủ đạo.

Nguồn bài dịch: nghiencuubiendong.vn

Im lặng đáng sợ

Im lặng đáng sợ


Nguyễn Văn Tuấn

Một trong những nét văn hóa trong các cơ quan công quyền ở trong nước là "văn hóa im lặng". Giới quan chức nói chung ít khi nào trả lời email hay thắc mắc của người dân, và càng im lặng trước những văn thư của quan chức nước ngoài. Thật khó giải thích thái độ im lặng đó, nhưng vấn đề là nó (sự im lặng) có khi gây tổn hại đến quốc gia …

Cách đây vài hôm tôi nhận được email của bạn đọc (là một sinh viên) phàn nàn rằng khi em gửi email đến thầy cô xin tư vấn thì đều không nhận được trả lời. Ngược lại, em này cho biết khi gửi email đến các thầy cô ở nước ngoài thì đều nhận được trả lời, có khi trả lời rất nhanh nữa. Em này hỏi tôi tại sao có sự khác biệt về thái độ giữa thầy cô ngoại và nội như thế. Tôi còn đang suy nghĩ câu trả lời thì chợt liên tưởng đến những chuyện gần đây. Những chuyện này nói lên cái văn hóa tôi gọi là văn hóa im lặng. Văn hóa này rất phổ biến trong giới quan chức.

Hình như các quan chức trong các cơ quan công quyền có văn hóa im lặng. Các nhân sĩ gửi thư đề nghị giải thích về tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến chuyến đi của đặc phái viên Hồ Xuân Sơn. Đáp lại sự quan tâm đó là một sự im lặng dài từ Bộ Ngoại giao. Rồi đến phần lớn các kiến nghị của nhân sĩ cũng rơi vào … không khí. Thư từ thắc mắc của người dân cũng thế: rơi vào im lặng. Có lần nói chuyện với một cựu đại biểu Quốc hội, chị gọi đó là "im lặng đáng sợ". Đáng sợ hay không thì tôi không rõ, nhưng thái độ đó chẳng những khó hiểu mà có khi còn gây tác hại.

Tác hại thì đã xảy ra. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Vietnam Airlines (VNA) thua kiện chỉ vì sự im lặng. Khoảng 5 năm (?) trước, tòa án Ý buộc VNA phải bồi thường cho luật sư Maurizio Liberati gần 5 tỉ lia và đồng thời thanh toán chi phí luật sư gần 60 triệu lia. Sự việc xảy ra chỉ vì VNA khinh thường tòa án, không cử người tham dự phiên tòa. VNA làm ngơ án lệnh. Sự việc dẫn đến tòa án Paris ra lệnh phong tỏa tài khoản VNA. Chẳng biết kết cục câu chuyện ra sao, nhưng đó là một bài học đắt giá cho sự xem thường luật pháp quốc tế.

Hôm qua, đọc được một tin đáng chú ý khác về tai hại nghiêm trọng của văn hóa "im lặng đáng sợ". Tác giả Nguyễn Duy An (làm việc tại tạp chí National Geographic của Mĩ) thuật lại câu chuyện đằng sau vấn đề bản đồ Hoàng Sa làm tốn nhiều giấy mực và công sức của người Việt vào năm ngoái như sau:

"Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm "Bản Đồ" để hỏi về việc "đổi tên" quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất "đang tranh chấp", ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands "Hoàng Sa" thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin "xác định" tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ "khẳng định chủ quyền" trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: "Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!"


Đọc những dòng chữ trên, tôi thật sự sốc. Thật khó tưởng tượng nổi tại sao những người có trách nhiệm quá vô cảm trước một vấn đề trọng đại như thế! Với những quan chức vô cảm như thế này thì nguy cơ mất mát và thua thiệt ngoại bang sẽ còn dài dài trong tương lai.

Tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao có văn hóa im lặng. Có lẽ không ai biết đích xác lí do tại sao các quan chức ta tiết kiệm lời lẽ, nhưng có thể nghĩ đến một số lí do sau đây:

Thứ nhất là vô cảm. Nhiều quan chức trong nước chẳng quan tâm đến chủ quyền biển đảo. Tôi đã gặp quan chức cấp tỉnh thậm chí còn chẳng biết Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam! Thật ra, cũng không trách họ vì họ thiếu thông tin. Những gì báo chí đưa tin không đầy đủ, và những gì phổ biến trong Đảng thì chưa chắc là những thông tin đa chiều. Trong bối cảnh như thế, nếu một quan chức nhận một công văn từ nước ngoài về Hoàng Sa và Trường Sa, có thể họ nghĩ đó là chuyện của… Trung Quốc.

Thứ hai là ngạo mạn và khinh thường. Nhiều quan chức Việt Nam xem người dân như cỏ rác. Thử nhìn qua các quan chức ngồi vào ghế nói chuyện với người dân thì biết. Họ chẳng thèm nhìn mặt dân. Ngôn ngữ thì quát nạt hơn là nói. Có khi còn dùng cả ngôn ngữ tay chân. Còn nhớ một ông phó bí thư (?) tát một bạt tay vào mặt bà cụ khi bà nhờ ông này mua vé. Lại có quan chức nghĩ rằng VN có luật của VN, nên bất chấp luật quốc tế. Có lẽ chính vì suy nghĩ này mà VNA phớt lờ tòa án Ý và phải lãnh đủ hậu quả.

Thứ ba là văn hóa làm thuê. Người làm thuê chỉ nghĩ đơn giản làm cho xong việc và việc đáng với đồng lương. Một suy nghĩ rất phổ biến trong giới quan chức là trả lương đến đó thì làm việc đến đó. Họ không suy nghĩ gì ngoài chuyện cơm áo gạo tiền. Họ không cần phấn đấu (mà phấn đấu có khi lại nguy hiểm vì bị đồng nghiệp dèm pha) và chỉ làm việc như cái máy, cứ như đến hẹn lại lên. Tôi gọi đó là văn hóa làm thuê, và kẻ làm thuê thì chẳng cần quan tâm đến chuyện công chúng, vì đối với họ đất nước này ai quản lí chẳng thành vấn đề; vấn đề là có cơm ăn áo mặt cái đã. Đối với những quan chức loại này thì không mong gì họ có lòng với quê cha đất tổ và sự im lặng của họ hoàn toàn có thể hiểu được.

Thứ tư là do sợ trách nhiệm. Trong bối cảnh chức vụ đi đôi đặc quyền và đặc lợi, thì có thể hiểu được các quan chức cần bảo vệ chức vụ của mình. Một cách an toàn là không phát biểu gì đụng chạm, hay tốt hơn nữa là … im lặng. Đó là chưa kể tình trạng chồng chéo về trách nhiệm và quyền lực. Một cơ quan có thủ trưởng nhưng cũng có bí thư. Nếu hai người này là một thì thủ tục còn tin giản, nhưng nếu là hai người khác nhau thì có khi cũng phiền phức. Nếu một quan chức muốn phát biểu họ phải xin phép cấp trên, và cấp trên lại xin phép cấp trên, cấp trên xin phép Đảng ủy, và cứ như thế chẳng ai dám nói gì.

Thứ năm là đá bóng. Nhìn qua cách hành xử của các cơ quan công quyền, họ có xu hướng "đá bóng". Người này tìm cách biện minh không nằm trong quyền hạn hay trách nhiệm của mình, rồi đề nghị qua người khác; người khác cũng có lí do để nói không thuộc trách nhiệm của mình. Nhất là vấn đề liên quan với nước ngoài, người ta càng dè dặt, dè dặt đến nổi cuối cùng chẳng ai có động thái gì.

Lại có một loại quan chức nghĩ chuyện quốc gia đại sự là chuyện của lãnh đạo, để cho lãnh đạo giải quyết. Còn lãnh đạo thì nghĩ đó là chuyện của lãnh đạo cấp cao hơn. Cuối cùng thì chẳng có ai hành động. Thay vì hành động thực tế thì Việt Nam có những đề nghị và chỉ thị (rất nhiều chỉ thị). Mà khi đã có hàng tá đề nghị lên và chỉ thị xuống thì sự việc coi như "đã rồi", chẳng còn cứu vãn được tình thế.

Thứ sáu là vấn đề tiếng Anh. Phải ghi nhận rằng các quan chức rất kém tiếng Anh. Do đó, đứng trước một văn bản tiếng Anh, họ không hiểu, hoặc hiểu nhưng không tốt lắm, và ngay cả hiểu nhưng không biết cách soạn thảo một văn thư trả lời. Ngay cả quan chức Bộ Ngoại giao cũng hạn chế tiếng Anh thì khó trách các bộ và ngành khác. Từ hạn chế về tiếng Anh dẫn đến thiếu tự tin, và hệ quả là … im lặng.

Dù là vô cảm, ngạo mạn, vô trách nhiệm, đá bóng, hay tiếng Anh (hay bất kể lí do gì) thì văn hóa im lặng đáng sợ là không thể chấp nhận được. Ngày nào cái văn hóa đó còn tồn tại thì ngày đó hệ thống hành chính chưa văn minh, người dân vẫn còn khổ, và chủ quyền quốc gia còn bị đe doạ. Người ta có thể cười đùa với quan chức im lặng, nhưng im lặng trước vấn đề chủ quyền tổ quốc bị xâm phạm là một sự phản bội (và người đó không xứng đáng làm người Việt) chứ không phải chuyện đùa được.


Nguyễn Văn Tuấn
http://nguyenvantuan.net/misc/9-misc/1336-im-lang-dang-so-

03 September 2011

Sống thành công


Sống thành công

Trong cuộc sống, bạn hãy nhớ những điều sau đây...


Chấp nhận: Hãy biết chấp nhận người khác, con người thật của họ và những lựa chọn của họ cho dù có khi bạn khó mà hiểu được niềm tin, động cơ hay hành động của họ.

Niềm tin: Hãy tin tưởng vào chính mình, tin rằng mình sẽ thành công, hạnh phúc và những điều tốt đẹp sẽ đến với mình. Những rào chắn chỉ là những chướng ngại nhỏ trên đường và bạn sẽ vượt qua chúng thôi.

Tha thứ: Hãy tha thứ và quên đi những điều không hay. Sự giận dữ, thù hận chỉ làm lòng bạn thêm trĩu nặng và muộn phiền. Hãy để lòng mình rộng mở và nhớ rằng, ai cũng có thể mắc sai lầm.

Hy vọng: Hãy hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất và đừng bao giờ quên rằng bất cứ điều tốt đẹp nào cũng có thể đến với bạn, miễn là bạn luôn sống và cố gắng hết sức mình.

Bỏ qua: Hãy bỏ qua những suy nghĩ tiêu cực trong đầu bạn. Thay vào đó, hãy tập trung vào mục đích chính của mình và hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp.

Chờ đợi: Hãy kiên nhẫn, bạn phải biết rằng dù cho sự việc tệ đến thế nào đi nữa thì nó rồi cũng sẽ tốt hơn thôi. Hơi ấm của mùa xuân luôn đến sau mùa đông khắc nghiệt nhất.

Yêu thương: Hãy để tình yêu lấp đầy trái tim bạn. Khi sự căm ghét ngự trị trong tim thì chẳng còn chỗ cho bất kì thứ gì khác, nhưng nếu có tình yêu hiện diện ở đó, bạn sẽ nhận ra rằng niềm hạnh phúc, niềm vui, thành công đều ở cả nơi đây.

Quản lý: Hãy quản lí thời gian và chi tiêu của mình một cách khôn ngoan, bạn sẽ ít bị căng thẳng, lo lắng. Như vậy, bạn có thể tập trung vào những việc quan trọng hơn trong cuộc sống của mình.

Chú ý: Đừng bao giờ phớt lờ những người bệnh tật, đang tuyệt vọng, yêu đuối hay đau đớn đáng thương. Hãy giúp đỡ khi có thể và luôn luôn giúp bằng lòng tử tế và sự hiểu biết của mình.

Đón nhận: Hãy mở mắt nhìn và đón nhận tất cả vẻ đẹp xung quanh bạn. Thậm chí ngay cả vào thời điểm khó khăn nhất cũng còn nhiều thứ khiến bạn phải mỉm cười, và mang ơn.

Cố gắng: Hãy cố gắng, cố gắng không ngừng. Thậm chí ngay cả khi ước mơ của bạn dường như không thể thực hiện được thì bạn cũng cứ thử xem sao. Bạn sẽ kinh ngạc trước những gì bạn có thể đạt được.

Làm việc: Hãy làm việc chăm chỉ mỗi ngày để trở thành con người tốt nhất mà bạn có thể, nhưng đừng bao giờ cảm thấy bản thân mình tội lỗi nếu bạn gặp thất bại hay lỗi lầm. Mỗi lần mặt trời mọc báo hiệu một ngày mới đều cho bạn cơ hội thứ hai.

Nhìn và lắng nghe: Hãy nhìn sâu vào lòng những người xung quanh bạn và lắng nghe họ nói, bạn sẽ thấy những điều tốt đẹp hiện hữu nơi họ. _()_

02 September 2011

2-9: Ngày quốc nạn độc tài

2-9: Ngày quốc nạn độc tài


Trần Gia Phụng

Chế độ Cộng Sản Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ ngày 2-9-1945. Ngày nầy đánh dấu sự khởi đầu quốc nạn độc tài đảng trị toàn trị trên đất nước chúng ta cho đến ngày nay.

1.- Chủ trương độc quyền cai trị

Ngày 2-9-1945, đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) và Mặt trận Việt Minh (VM), một tổ chức ngoại vi của đảng CSĐD, cướp chính quyền. Lúc đó, đảng CSĐD chỉ có khoảng 5,000 đảng viên. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam đe 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 182.) Những người nầy thuộc ba nhóm chính: (1) Nhóm theo Hồ Chí Minh từ khi còn hoạt động ở Trung Quốc. (2) Nhóm trong nước từ thời Trần Phú và trước đó. (3) Nhóm từ Liên Xô đi thẳng về miền Nam. Tuy nhiên cả ba nhóm đều thuộc đảng CSĐD, dưới sự chỉ huy của Ủy ban Trung ương đảng CSĐD, và nằm trong hệ thống CSQT do Liên Xô lãnh đạo.

Đảng CSĐD và Mặt trận VM thành công là nhờ lúc đó quân đội Nhật Bản đầu hàng Đồng minh ngày 14-8-1945, hạ võ khí, và hoàn toàn không chiến đấu; trong khi chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có quân đội để bảo vệ trật tự, an ninh. Do đó, bộ đội VM một mình thao túng, cướp chính quyền và công bố thành lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945.

Ngày 11-9-1945, tức chỉ gần 10 ngày sau khi chính phủ VNDCCH ra mắt, hội nghị Trung ương đảng CSĐD tại Hà Nội đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CSĐD nắm độc quyền điều khiển mặt trận VM, và một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 143.) Đảng CSĐD nắm độc quyền mặt trận VM. Mặt trận VM đang nắm chính quyền, cai trị đất nước. Như thế có nghĩa là đảng CSĐD độc quyền cai trị đất nước.

Do chủ trương độc tôn quyền lực, VMCS thực hiện hai kế hoạch: Thứ nhất tiêu diệt tất cả những thành phần đối lập, theo chủ nghĩa dân tộc. Thứ hai, thương thuyết với các thế lực nước ngoài (Trung Quốc và Pháp) nhằm duy trì quyền lực.

Kế hoạch tiêu diệt thành phần đối lập được VM gọi là "giết tiềm lực". Chỉ những ai chịu sự điều động của VM, thì được tồn tại. Còn những ai có năng lực nhưng không hợp tác với VM, dầu không chống đối VM, cũng bị VM tiêu diệt để loại bỏ những khả năng tiềm ẩn, có thể bất lợi về sau cho VM. Cho đến nay chưa có thống kê đầy đủ tổng cộng số người bị VM sát hại vì lý do chính trị và tôn giáo từ cấp cao nhất ở trung ương và các thành phố lớn, đến cấp thấp ở các làng xã trên toàn quốc, trong giai đoạn từ khi VM nắm quyền năm 1945. Con số phỏng chừng không dưới một trăm ngàn người trên toàn quốc trong cuộc giết tiềm lực của VM. Con số xem ra lớn lao, nhưng tính trung bình từng tỉnh hoặc thành phố, nhân lên tổng số tỉnh trên toàn quốc thì sẽ thấy rõ. Xin chú ý thêm rằng những người bị VM giết đa số là nhân tài của đất nước, có thể nguy hiểm cho cộng sản, nên mới bị cộng sản giết.

2.- Bước đầu thi hành độc tài

Việt Minh nắm hết ngay tất cả những phương tiện truyền thông, đài phát thanh, các nhà máy in, các cơ sở sản xuất giấy và buôn bán giấy. Báo Cứu Quốc của mặt trận VM trước đây phát hành bí mật, nay ra công khai từ ngày 24-8-1945. Báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của nhà nước VM, xuất bản số đầu ngày 5-12-1945. Việt Minh thành lập ban chỉ đạo báo chí và văn sĩ, huấn luyện cán bộ tuyên truyền cho chế độ để hướng dẫn quần chúng.

Ngay khi vừa được thành lập, tuy chưa có quốc hội để quyết định, chính phủ VNDCCH đặt thủ đô tại Hà Nội. Ngày 5-9-1945, bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký văn thư quy định quốc kỳ là "Cờ đỏ sao vàng", vốn là cờ của mặt trận Việt Minh, và bài "Tiến quân ca" của nhạc sĩ Văn Cao là quốc ca.

Lúc đó, quốc kỳ của CSVN có ngôi sao vàng ở giữa mập đầy, chứ không thon và sắc cạnh như về sau. Cờ nầy phỏng theo cờ của các đảng CSTH và Liên Xô. Theo tài liệu của CSVN, quốc kỳ và quốc ca của nhà nước VM đã được quyết định tại Đại hội đại biểu quốc dân ngày 16-8-1945 ở Tân Trào. (Bộ Quốc Phòng, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tr. 911.)

Về hành chánh, VM ban hành sắc lệnh ngày 5-9-1945 dẹp bỏ toàn bộ hệ thống quan lại cũ ở thành thị cũng như hào lý ở nông thôn, và lập ra những Uỷ ban nhân dân trên toàn quốc theo các cấp xã, huyện, tỉnh, bộ (kỳ). Uỷ ban nầy gồm những cán bộ VM và những người thân VM, trong đó đa số chưa thông thạo công việc hành chánh.

Nghị định ngày 8-9-1945 quy định tổ chức phổ thông đầu phiếu trong vòng hai tháng để bầu cử Quốc dân đại biểu đại hội (Quốc hội lập hiến). Tất cả công dân trên 18 tuổi đều được ứng cử và bầu cử, không phân biệt giới tính (nam, nữ), sắc tộc.

Tuy nói là hai tháng, nhưng VMCS tìm cách trì hoãn bầu cử. Mãi đến khi các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc, từ Trung Quốc trở về Việt Nam sau thế chiến thứ hai, đòi hỏi quyết liệt, quốc hội lập hiến mới được bầu ngày 6-1-1946. Do sự chỉ định và áp đặt của VM, đa số đại biểu VM và than VM đắc cử. Chỉ có một thiểu số nhân vật các đảng phái được đưa vào quốc hội. Cựu hoàng Bảo Đại cho biết sau khi ra Hà Nội, ông bị đưa đi "nghỉ mát" ở Thanh Hóa. Việt Minh cho người đến mời ông ứng cử. Ông không tranh cử, nhưng lạ lùng là ông vẫn được đắc cử ở Thanh Hóa với số phiếu là 92% cử tri đi bầu. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nguyễn Phước tộc xuất bản, 1990, tt. 221-222.)

Quốc hội soạn xong bản hiến pháp và thông qua ngày 9-11-1946, gồm "Lời nói đầu", 7 chương và 70 điều. Lúc đó, các lãnh tụ đối lập với VM bị khủng bố đã rút lui hay bỏ qua Trung Quốc, không còn ai đối lập với VM. Vì vậy, Hiến pháp chưa được chính phủ ban hành, thì ngày 14-11-1946 quốc hội gồm đa số đại biểu VM còn lại, tuyên bố đình chỉ thi hành hiến pháp vừa thông qua. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 28.)

Trong chế độ cộng sản đảng trị, nhà nước VM chỉ là cánh tay nối dài của đảng CS và chỉ tuân theo những nghị quyết của đảng bộ cộng sản, thường được gọi là đảng ủy các cấp, từ trung ương xuống địa phương, chứ không theo luật pháp quy định. Nghị quyết là quyết định của một nhóm người (tức các đảng bộ VM) đưa ra trong một hội nghị, theo từng hoàn cảnh, chủ quan chính trị và quyền lợi của nhóm người đó. Vì vậy, để độc tôn quyền lực, nhà nước VM không cần đến hiến pháp nhằm tránh bị hiến pháp ràng buộc.

Ngày 11-9-1945, Hồ Chí Minh gởi thông báo cho các tỉnh trên toàn quốc, chỉ dẫn cách thức tổ chức Ủy ban nhân dân tỉnh. Mỗi ủy ban tỉnh gồm có từ 5 đến 7 người: chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký, và 4 ủy viên (chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội). Ủy viên chính trị có nhiệm vụ thành lập tòa án nhân dân trừng trị những kẻ phạm tội, trái luật, do thám, Việt gian, tuyên truyền và huấn luyện chính trị cho nhân dân. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd. tt. 21-23.)

Việt gian là từ ngữ xuất hiện từ năm 1945 mà VM dùng để chỉ những người không đồng chánh kiến với VM, theo các đảng phái khác, hay cộng tác với người Pháp hoặc người Nhật (VM gọi là tay sai). Việt Minh muốn hãm hại ai, thì chỉ cần chụp mũ Việt Gian là bắt giết. Trong khi đó, Hồ Chí Minh và VM cộng tác và làm tay sai cho Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc thì sao?

Về danh xưng các đơn vị hành chánh, ngày 14-9-1945, VM lấy tên danh nhân hay tên cán bộ cộng sản đặt tên các địa phương, thay thế tên cũ. Đại khái tên các thành phố và tỉnh thành như sau: Thành phố Hoàng Diệu (Hà Nội); Nguyễn Trãi (Hà Đông); Đề Thám (Bắc Giang); Lý Thường Kiệt (Bắc Ninh); Ngô Duy Phường (Thái Bình); Tán Thuật (Hưng Yên); Trần Hưng Đạo (Nam Định); Hoa Lư (Ninh Bình); Trưng Trắc (Phúc Yên); Nguyễn Thái Học (Vĩnh Yên); Đội Cấn (Thái Nguyên); Ngô Quyền (Sơn Tây); Tô Hiệu (Hải Phòng); Phạm Ngũ Lão (Hải Dương); Thái Phiên (Đà Nẵng); Trần Cao Vân (Quảng Nam); Lê Trung Đình (Quảng Ngãi); Cao Thắng (Phú Yên); Nguyễn Huệ (Quy Nhơn) …

Tuy nhiên, người Việt không có thói quen dùng tên người để đặt tên thành phố theo kiểu Tây phương, nên ngày 9-10-1945, Hội đồng chính phủ quyết định các địa phương đều phải lấy lại tên cũ. Trong thời gian nầy, chính phủ VM chia nước thành 14 khu, vừa có tính chất hành chính, vừa có tính chất quân sự, và dùng con số để đặt tên các khu. Bắc Bộ có 7 khu (1, 2, 3, 10, 11, 12, 14). Trung Bộ có 4 khu (4, 5, 6, 15). Nam Bộ có 3 khu (7, 8, 9). Số thứ tự các khu về sau sẽ được điều chỉnh.

Điều đáng nói thêm là để thi hành chủ trương độc tài đảng trị, đảng CS và VM áp dụng chính sách "giáo dục phục vụ nhân dân" hay "giáo dục phục vụ chính trị". Đó là nền giáo dục nhằm mục đích trên lý thuyết là phục vụ nhân dân, phục vụ công nhân lao động, nhưng trên thực tế là phục vụ chính trị, tức phục vụ chế độ do đảng CSĐD lãnh đạo.

Chính sách nầy do thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn nhập cảng từ Liên Xô. Có người cho rằng chính sách nầy ở Liên Xô do bộ trưởng Liên Xô là Kalenikov (?) đưa ra. Nguyễn Khánh Toàn có tên Nga là Minin, đã tòng học tại Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des Travailleurs d'Orient) ở Moscow (Liên Xô) từ năm 1928 đến năm 1931.

Trong nền giáo dục nầy, chương trình học tập cho học sinh theo đúng lập trường đảng CSĐD, nhất là các môn nhân văn (quốc văn, sử địa, công dân hay chính trị). Chỉ những người có thẩm quyền trong đảng mới được soạn sách giáo khoa và sách giáo khoa được xem là pháp lệnh, không giáo viên nào được giảng dạy ra ngoài sách giáo khoa. Giáo viên, học sinh đều phải "hồng" hơn "chuyên", tức phải mang tính đảng hơn là khả năng chuyên môn. Với một nền giáo dục như thế, CSVN chỉ đào tạo được những người biết vâng lời hơn là biết suy nghĩ. Cộng sản chỉ cần như thế để ap đặt chế độc độc tài toàn trị. Tuy nhiên, chính đó là nguyên nhân suy thoái của Việt Nam ngày nay.

Chỉ sơ lược như trên, rõ ràng ngày 2-9 chẳng có gì vui mừng để gọi là "quốc khánh", mà là ngày mở đầu cho quốc nạn và quốc nhục độc tài đảng trị và toàn trị của dân chúng Việt Nam.


Trần Gia Phụng
Toronto, 30-8-2011