06 October 2012

Văn hóa và tham nhũng


Nguyễn Hưng Quốc

Tham nhũng là một hiện tượng vô cùng phức tạp, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước, phần lớn giới nghiên cứu chỉ chú ý đến hai nguyên nhân chính: kinh tế và chính trị.

Về kinh tế, nói chung, có hai quy luật chính: một, nước có thu nhập trên đầu người càng cao càng ít tham nhũng; và hai, trong khi thu nhập dựa trên kỹ nghệ làm giảm thiểu tham nhũng, ở những nơi thu nhập chủ yếu dựa trên tài nguyên thiên nhiên (như dầu lửa, chẳng hạn) thì tham nhũng không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng trầm trọng hơn những nơi khác.

Về chính trị, nói chung, cũng có mấy quy luật chính: một, quốc gia càng dân chủ, càng minh bạch và càng tự do, đặc biệt tự do ngôn luận, tham nhũng càng ít; hai, tính chất dân chủ ấy càng lâu đời và càng ổn định, tham nhũng lại càng ít (ngược lại, như nhiều nước Đông Âu sau 1990 chứng minh, trong quá trình chuyển tiếp từ độc tài đến dân chủ, nạn tham nhũng càng hoành hành dữ dội hơn hẳn trước đó); và ba, hầu hết các nước độc tài đều tham nhũng, nhưng mức tham nhũng mỗi nơi mỗi khác: độc tài dựa trên ý thức hệ ít tham nhũng hơn độc tài dựa trên gia đình hoặc cá nhân. Gần đây, ngoài hai nguyên nhân kinh tế và chính trị ấy, giới nghiên cứu còn chú ý đến một nguyên nhân khác: văn hóa.

Về phương diện văn hóa, ở cấp độ vĩ mô, người ta phát hiện một số điểm khá thú vị. Một, trong các nước phát triển, những nước theo đạo Tin Lành ít tham nhũng hơn các nước khác (xin lưu ý: các nước theo đạo Tin Lành cũng là những nước có nền dân chủ sớm, cao và ổn định nhất!). Hai, trong số các nước đang phát triển, các cựu thuộc địa của Anh ít tham nhũng hơn cựu thuộc địa của Pháp hay Tây Ban Nha. Ba, những nước có tinh thần tập thể (collectivism) mạnh thường tham nhũng nhiều hơn những nước có tinh thần cá nhân chủ nghĩa cao (có một ngoại lệ hầu như duy nhất: Singapore). Bốn, trong các nước có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, những nơi chủ nghĩa cá nhân phát triển theo chiều dọc (vertical individualism, nhấn mạnh vào tính độc lập của cá nhân đồng thời chống lại những dị biệt mang tính đẳng cấp trong xã hội ) thường tham nhũng nhiều hơn những nơi chủ nghĩa cá nhân phát triển theo chiều ngang (horizontal invidualism, nhấn mạnh cả tính độc lập lẫn tính cạnh tranh, muốn chiếm vị trí trên cùng trong bậc thang đẳng cấp) (1). Năm, ít nhiều liên hệ với đặc điểm vừa nêu, những nơi nặng tinh thần gia tộc bao nhiêu càng dễ tham nhũng bấy nhiêu: ở đó, những người có quyền thế dễ có khuynh hướng phân phối quyền lực và quyền lợi, trước hết, cho những người thân trong dòng họ, và những người ấy lại trở thành những đầu mối của tham nhũng (2). S
áu, những nước càng đề cao nam quyền càng có nguy cơ tham nhũng nhiều.

Ở cấp độ vi mô, nhiều nhà nghiên cứu tập trung sự chú ý vào tâm lý cá nhân cũng như liên cá nhân (interpersonal) để giải thích hiện tượng tham nhũng. Lý do cũng dễ hiểu. Tham nhũng là một mối quan hệ hai chiều: người nhận tiền - thường là người có quyền lực) - và người đưa tiền - người ít hoặc không có quyền lực nhưng đang cần sử dụng quyền lực của người khác (đó là chưa kể sự hiện hữu của thành tố thứ ba: môi giới).

Lý do để người ta nhận hối lộ không khó giải thích: thứ nhất, vì tham; thứ hai, vì người ta có thể; và thứ ba, vì tính toán: khó bị phát hiện, hoặc nếu bị phát hiện, cái giá phải trả rẻ hơn những gì người ta nhận được. Nguyên nhân thứ nhất gắn liền với bản tính con người; nguyên nhân thứ hai với cơ chế; và nguyên nhân thứ ba với pháp luật.

Nhưng vấn đề là:
Tại sao những người đưa hối lộ lại sẵn sàng móc tiền túi ra để đút lót cho người khác? Lý do, thật ra, cũng không khó hiểu: Vì muốn được việc. Nhưng cái gọi là được việc ấy lại có thể được nhìn từ hai góc độ: kinh tế và đạo đức.

Về kinh tế, người ta thấy số tiền đút lót rẻ hơn số tiền người ta đáng lẽ phải trả. Ví dụ, một người nào đó, ở Việt Nam, muốn mua nhà. Đã chọn và đã ngã giá xong xuôi. Bây giờ đến giai đoạn quan trọng nhất: làm giấy tờ mua bán nhà. Muốn làm giấy tờ, phải lót tiền cho các cán bộ liên hệ. Người ta có hai lựa chọn: một, không chịu lót tiền để hoặc, không làm được giấy tờ hoặc làm một cách chậm trễ, cuối cùng, không mua được căn nhà mình thích; và hai, chi ra một số tiền nào đó để mọi thủ tục hành chính được tiến hành nhanh chóng và êm ả. Người chọn giải pháp thứ hai sẽ lý luận: mất một ít tiền hối lộ nhưng đỡ mất công chạy tới chạy lui, hơn nữa, còn được việc. Tính ra, số tiền hối lộ ấy được xem là rẻ, hoặc ít nhất, có thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, còn một khía cạnh khác: đạo đức. Ở một số nơi, nhiều người biết hối lộ sẽ được việc nhưng người ta vẫn từ chối làm như thế vì nó trái với nguyên tắc về sự công chính hay công bằng mà người ta tin tưởng và theo đuổi. Chính ở đây, người ta nhận thấy có sự khác biệt về văn hóa: tham nhũng càng dễ phát triển ở những nơi có sự dễ dãi đối với tham nhũng (corruption permissiveness), ở đó, người ta cho rằng, một, việc hối lộ không thuộc phạm trù đạo đức; hai, ai và ở đâu cũng có tham nhũng nên người ta không có chọn lựa nào khác; và ba, chính vì hai lý do ấy, tham nhũng là điều có thể chấp nhận được.

Nguyên nhân chính của thái độ dễ dãi đối với tham nhũng như vậy nằm ở sự tin cậy. Có hai khía cạnh thường được chú ý: sự tin cậy liên cá nhân (interpersonal trust) và sự tin cậy đối với cơ chế (institutional trust). Cả hai sự tin cậy này đều là những sự đối lập của tham nhũng, tuy mức độ đối lập ấy, ở mỗi loại tin cậy, có sự khác biệt khá rõ. Sự đối lập giữa tham nhũng và sự tin cậy liên cá nhân có mức độ giao động khá cao (3). Nhưng trong phạm vi cơ chế, tham nhũng chỉ xảy ra khi người ta không có sự tin cậy. Ở Úc (hay tất cả các quốc gia có chỉ số minh bạch cao), làm bất cứ một thứ giấy tờ gì đó, ít có người nghĩ đến chuyện hối lộ. Vì người ta tin tưởng vào bộ máy công quyền. Hơn nữa, người ta cũng sợ sẽ bị tác dụng ngược: không những không được việc mà còn có thể bị phạt. Ở Việt Nam, hay ở bất cứ nơi nào có nạn tham nhũng cao, người ta hoàn toàn không có sự tin cậy ấy. Nhiều người Việt ở nước ngoài, mỗi lần về nước, có thói quen hay nhét vài chục đô la vào passport. Lý do: họ sợ bị làm khó dễ. Mà bị làm khó dễ ở Việt Nam thì không thể khiếu nại với ai được. Nhưng cũng người ấy, khi quay lại quốc gia nơi họ định cư thì lại tuyệt đối không bao giờ có ý định nhét tiền vào passport khi đi qua cửa khẩu.

Ở Việt Nam, cũng như một số nước Á châu khác, việc tham nhũng, nhất là việc đưa hối lộ, bị loại trừ ra khỏi phạm trù đạo đức còn vì một lý do khác nữa: nó được xem là một thứ văn hóa giao tiếp với một tên gọi rất ư ngọt ngào: quà. Tặng quà không phải là hối lộ và nhận quà cũng không phải là nhận hối lộ. Hối lộ gắn với sự tham lam và sự gian dối, hơn nữa, là một hành vi phạm pháp. Quà thì khác: quà gắn liền với tình nghĩa và truyền thống, do đó, là một hành động cao đẹp. Một bác sĩ nhận tiền của bệnh nhân để thu xếp giường nằm cho bệnh nhân ấy trong bệnh viện không xem số tiền ấy là hối lộ mà là "quà".

Một giáo sư nhận phong bì của nghiên cứu sinh làm luận án để cho điểm luận án ấy một cách rộng rãi cũng tự xem phong bì ấy chỉ là "quà". Tết, nhân viên cấp dưới tặng cho thủ trưởng những phong bì có khi lên đến cả hàng chục ngàn đô la thì vẫn xem đó là "quà". Nghe kể, ở Việt Nam, khi có con chuẩn bị đi du học ở nước ngoài, nhiều bậc có chức quyền thường khuyên chúng đi quanh chào từ biệt các nhân viên cấp dưới. Để làm gì? Mục đích chính là để nhận quà cáp trước lúc lên đường. Để lấy lòng thủ trưởng, người nào cũng cố sức quan tâm đến con cái thủ trưởng. "Cháu đi học ở châu Âu hả? Mùa này lạnh lắm. Để chú tặng cháu cái áo da." "Cháu đi học xa, chắc cần liên lạc với gia đình và bạn bè, để cô tặng cháu cái Iphone mới nhé?", "Em lên đại học rồi, chắc cần Ipad và Laptop lắm? Để chị tặng cho!" Vân vân. Tất cả đều không phải là hối lộ. Mà là quà.

Nhớ, cách đây khá lâu, trong một cuộc họp Khoa, một đồng nghiệp của tôi đặt vấn đề: Một số sinh viên Á châu thường đến tặng quà; thầy cô giáo có nên nhận hay không? Một số giáo sư ngành Á châu học nhấn mạnh: đó là một nét trong văn hóa Á châu. Sau một hồi bàn cãi, mọi người "nhất trí" với nhau mấy nguyên tắc chính: thứ nhất, đó là văn hóa thì mình phải tôn trọng; thứ hai, nhưng dù là văn hóa, cũng không được quyền biến thành một sự đổi chác; thứ ba, để khỏi bị biến thành "đổi chác", chỉ nhận những món quà có tính chất tượng trưng (nghĩa là rất rẻ) và đặc biệt, quan trọng nhất, sau khi thi xong, chấm điểm xong, nộp điểm xong và điểm đã được công bố chính thức!

Sau cuộc họp ấy, tôi cứ phân vân tự hỏi: Ở Việt Nam, có bao giờ người ta bàn với nhau như vậy không nhỉ? Và nếu bàn, có thực hiện không nhỉ?

***

Chú thích:

Xem bài "Cultural Orientation and Corruption" của Shu Li, Harry C. Triandis và Yao Yu trên báo Ethics & Behavior số 16 năm 2006, tr. 199-215.

Xem bài "Corruption, Culture and Communism" của Wayne Sandholtz & Rein Taagepera trên International Review of Sociology số 15, tháng 3, 2005, tr. 112.
Xem www.worldvaluessurvey.org/wvs/articles/folder.../5_Moreno.pdf



http://bit.ly/WvOFVQ

05 October 2012

Sự điên khùng của một bạo chúa (phần 1)


1958 – 1961: "Đại nhảy vọt"

Gesa Gottschalk
Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử "Trung Quốc của Mao Trạch Đông" do GEO EPOCHE xuất bản

Năm 1957, Mao ra lệnh thực hiện thêm một cuộc cách mạng nữa: với một cuộc "Đại Nhảy Vọt", nền nông nghiệp Trung Quốc cần phải được hiện đại hóa và xuất khẩu những lượng ngũ cốc khổng lồ trong thời gian ngắn nhất, nhà máy điện cần phải sản xuất điện và lò luyện kim cần phải nấu chảy thép ở khắp nơi để đất nước qua đó mà trở thành một quốc gia công nghiệp. Thế nhưng kết quả của sự hiện đại hóa bị cưỡng bức này thật là khủng khiếp. Thép được sản xuất ra thường là vô dụng, hồ nước thủy điện bị nghẽn bùn – và hàng triệu người đã trở thành nạn nhân của nạn đói hẳn là lớn nhất trong lịch sử.

Khi Xuân về ở Judong, những người đàn ông trẻ tuổi bỏ đi. Họ bỏ lại đồng ruộng mà trên đó không còn gì mọc nữa, vợ họ, những người không còn mang thai được nữa, con họ, những đứa bé sưng húp lên vì đói, cha mẹ họ, những người quá yếu ớt để mà có thể bỏ trốn. Nhà của họ bị phá tan, nồi nấu của họ bị tịch thu. Dân quân trong vùng săn lùng bất cứ người nào bỏ làng trốn đi, đánh chết hàng ngàn người.

Thế nhưng những người đàn ông từ Judong [Để ngăn ngừa sự đàn áp – ngay cả đến ngày nay – tên làng và tên những người dân của nó đã được thay đổi.] thoát được, họ chạy đến một tuyến đường sắt mà không bị phát hiện, leo lên một con tàu hỏa, bí mật đến được với những con tàu hỏa khác, đi cho đến tận rìa của Cao nguyên Tây Tạng, nơi vẫn còn có thức ăn.

Ở làng quê của họ, những người phụ nữ, trẻ em, người già và người bệnh đã chết trong vòng hai năm sau đó. Họ là nạn nhân của một nạn đói ngay cho Trung Quốc cũng là không tiền khoáng hậu – được gây ra bởi đảng đấy, cái đã nhận lấy quyền lực mười năm trước đó với lời hứa hẹn rằng không bao giờ sẽ có một người Trung Quốc nào chết đói nữa. Được gây ra trước hết là bởi người đứng đầu đảng này, người 16 tháng trước đó đã quyết định phóng đất nước này với một nổ lực vĩ đại vào thời Hiện đại công nghiệp – và đồng thời vào Chủ nghĩa Cộng sản.

Phân nửa người dân của Judong và có lẽ thêm 30 triệu người Trung Quốc nữa đã trả giá bằng mạng sống của mình cho giấc mơ "Đại Nhảy Vọt" này. [Con số nạn nhân dựa trên ước lượng. Nó dao động giữa 15 và 55 triệu. Ý kiến thống trị cho rằng đã có 30 triệu người chết.]

Cơ khí hóa nông nghiệp để tăng sản lượng lên gấp nhiều lần, ví dụ như qua tưới nước nhân tạo, mà nền tảng của nó cần phải được kiến tạo trong cuộc Đại Nhảy Vọt.

Cơ khí hóa nông nghiệp để tăng sản lượng lên gấp nhiều lần, ví dụ như qua tưới nước nhân tạo, mà nền tảng của nó cần phải được kiến tạo trong cuộc Đại Nhảy Vọt. Vì tám năm sau khi lên cầm quyền, Đảng Cộng sản vẫn còn chưa thể cung cấp lương thực thực phẩn một cách chắc chắn cho người dân Trung Quốc. Mao Trạch Đông lo sợ một cuộc khủng hoảng lớn, cái mà ông ấy cố ngăn chận bằng một trận đánh giải phóng. Ảnh: GEO Epoche.

JUDONG TRONG TỈNH HÀ NAM ở giữa Trung Quốc là một ngôi làng nghèo. Nó nằm giữa những cánh đồng trồng khoai lang và lúa mì trong vùng Tín Dương. Hồ nước lóng lánh giữa đồng ruộng.Người dân thường phải chịu đựng, họ quen với chiến tranh và thiên tai. Trong cuộc nội chiến, người nông dân đã đi xin ăn khắp nơi để mà sống qua ngày. Sau khi nắm lấy quyền lực năm 1949, Đảng đã gán cho họ một thể chế giai cấp tùy theo sở hữu của họ cho tới nay, cái đảo ngược trật tự của ngôi làng: "nông dân nghèo" được ưu đãi so với "đại địa chủ". Ruộng đất của những người giàu nhất được chia lại, để cho tất cả nông dân có thể làm ruộng trên đất có giá trị khoảng như nhau.

Thế nhưng năm 1957, tám năm sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân, ĐCS vẫn còn chưa thể lo được cái ăn cho tất cả mọi người Trung Quốc một cách đáng tin cậy. Cho tới năm 1952, tuy sản lượng thu hoạch có tăng lên – nhưng hầu như không đạt được đến mức của những năm 1930. Sau đấy, Đảng tập trung xây dựng công nghiệp.

Thêm vào đó, từ năm 1955, người nông dân phải làm việc trong các hợp tác xã, những cái thường bao gồm nhiều làng và có cho tới 300 hộ dân. Bây giờ họ không còn được phép bán đất đai, trâu bò và dụng cụ nữa, họ không còn được phép quyết định gieo trồng những thứ gì. Họ là một phần của nền kinh tế kế hoạch.

Vẫn còn có lỗ hổng: tuy là người nông dân phải bán mọi ngũ cốc lại cho nhà nước, cái còn lại sau khi trừ đi một phần làm lương thực nhỏ, thức ăn cho gia súc và hạt giống như là "phần dư ra". Vì giá mua của nhà nước thấp nên phần lớn họ đều giữ lại thu hoạch của họ hay mang chúng ra chợ ở địa phương, nơi có thể bán với giá cao hơn.

Nhưng khẩu phần lương thực, tiền ốm đau, tiền hưu thì chỉ có người dân thành phố là mới nhận được. Nông dân Trung Quốc, người đã đấu tranh cho ĐCS và đã hy sinh nhiều trong cuộc nội chiến, cảm thấy mình bị bỏ rơi. Báo chí tường thuật về sự bất bình ngày một tăng của con người ở nông thôn. Nông dân liên kết lại để ly khai ra khỏi hợp tác xã – về mặt chính thức, sự tham gia là tình nguyện.

Những người khác khinh bỉ các cán bộ trong làng của họ, còn tấn công cả gia đình của những người đó. Cả ở gần Judong, chỉ qua đêm là có những khẩu hiệu chống Cộng sản đã xuất hiện trên tường của một hợp tác xã. Nhiều người biểu quyết chống Cộng sản bằng chân: họ rời bỏ những nhóm sản xuất của họ và tìm những công việc được trả công tốt hơn ở nơi khác. Sản xuất nông nghiệp đình trệ: như sản lượng thu hoạch năm 1957 chỉ tăng có một phần trăm so với năm trước đó. Thêm vào đó, một cuộc điều tra dân số năm 1953 đã cho thấy rằng không phải tròn 475 triệu người như dự đoán mà là 582,6 triệu người dân sống ở nông thôn.

Trung Quốc hướng đến một cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế. Do vậy nên Mao cố thử nghiệm một bước đột phá và thề thốt với các đồng chí về một dự án mới: cuộc "Đại Nhảy Vọt". Chỉ trong vòng ít năm, đất nước đang phát triển này cần phải trở thành một quốc gia công nghiệp; đồng thời, ông ấy muốn cải tạo triệt để nền nông nghiệp.

Người Trung Quốc cần phải tăng sản lượng trên đồng ruộng, sản xuất năng lượng với những đập nước, sản xuất thép, làm việc trong nhà máy, xây đường lộ và đường sắt.

Nếu như mỗi người đều sẵn sàng từ bỏ gia đình và cộng động làng quê và mang mình vào trong một đạo quân sản xuất mới, thì sau một vài năm khó nhọc sẽ thành hình không chỉ một Trung Quốc hùng mạnh về kinh tế mà cả một xã hội mới.

Con người Cộng sản sẽ sống ở trong đó, những người đặt cái "chúng ta" lên trên cái "tôi": sẵn sàng hy sinh, không có yêu cầu, đầy nhiệt tình cách mạng.

Người chủ tịch muốn tái đánh thức dậy tinh thần hăng hái từ thời của cuộc nội chiến và chính bản thân mình cũng đầy sự thôi thúc muốn hành động, khi ông ấy tin rằng đã cảm nhận được sự nhiệt tình cách mạng mới. Nhưng dấy cũng là niềm tự hào quốc gia và lòng khao khát muốn được công nhận của Mao, những cái đã dẫn đến việc ông ấy quất roi đẩy dân tộc của ông ấy tiến lên phía trước một cách không thương xót.

Vì trong tháng 11 năm 1957 ông ấy đã đứng trên Lăng Lênin ở Moscow như là người khách danh dự và nhìn cuộc duyệt binh kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Mười. Người Xô viết vừa mới đưa chiếc Sputnik thứ hai lên quỹ đạo. Sếp Đảng Cộng sản Khrushchev khoe khoang trước những người khách của ông ấy đến mức Mao cảm thấy bị thách thức và trả lời rằng. "Đồng chí Khrushchev nói với chúng tôi rằng 15 năm nữa Liên bang Xô viết sẽ vượt qua Hoa Kỳ. Tôi có thể nói với các bạn rằng rất có thể là 15 năm nữa chúng tôi sẽ đuổi kịp hay vượt qua Liên hiệp Anh."

(Còn tiếp)

Gesa Gottschalk

Phan Ba dịch

http://bit.ly/SOqP3A

Bài 1: Tổ chức và mục tiêu của công ty Hoài Ngô


Nói chuyện với kẻ vì Hoài Ngô gây tội ác 
                                                      
                                                       Lê Nguyên Thanh

Bài số 1

Trước đây, chúng tôi đề nghị nhóm hoài Ngô hãy đặt quyền lợi Tổ Quốc lên trên hết. Tổ Quốc Việt Nam đang bị đảng thảo khấu cộng sản Việt Nam biến thành hàng hóa trao đổi với Tàu cộng, để địa vị và quyền lực của chúng được bền vững. Những tin tức mà chúng ta nhận được từ Việt Nam là những tin xót xa, nát lòng.

Trước thảm họa mất nước, người Việt Nam bất kể trú xứ, đảng phái, tôn giáo, thành phần xã hội đều phải có trách nhiệm đứng cạnh nhau; tay trong tay, tùy theo khả năng để phân công :"Đông có anh, Tây có tôi", hay "Nội công ngoại kích" hoặc "Trong đánh ngoài la" . Ai có khả năng ngoại ngữ , vị trí và uy tín thì viết báo, chuyển dịch tài liệu, thuyết trình, tiếp xúc, vận động với giới thức giả có uy tín, quyền lực cả về kinh tế lẫn chính trị gây áp lực lên chính sách của chính quyền sở tại đối với ngụy quyền cộng sản Việt Nam mỗi khi cơ hội. Người khác thì biểu tình, viết sách, tìm cách ngăn chận ảnh hưởng cộng sản vào cộng đồng tỵ nạn cộng sản.. . Tất cả đồng loạt tấn công cộng sản trên các mặt trận và dưới nhiều hình thức.

 Công việc nầy rất cần thời gian, kiến thức, tài chánh, thiện chí. Những tỵ hiềm, những tranh chấp có thể tạm thời "đậy lại". Khi lịch sử sang trang, và có điều kiện thì hẳn viết lại, nếu thấy sự viết lại đó có ich lợi cho quê hương đất nước. Viết lại không phải để tiếp tục gợi lại những khổ đau mà đã một thời phiền lụy cho nhóm người nầy, nhưng nhóm kia thì ngược lại, hay để báo thù gây hận.

Nhưng tiếc thay, khi cộng sản chưa lộ rõ hành vi đê hèn bán nước, chưa công khai dâng nước cho Tàu cộng,..thì những kẻ như Liên Thành lợi dụng chiếc áo viên chức VNCH, lợi dụng tình thế hiểm nghèo của những người tỵ nạn cộng sản tại Hồng Kông, đã cùng với Liên Bằng gạt được mớ tiền, rồi hợp tác với cái gọi là chính phủ Nguyễn hữu Chánh để gạt người yêu nước để bán "Công khố phiếu", thời gian nầy Dương đại Hải được ông Chánh cho mang lon Trung Tướng (!?). Thế rồi, vì tranh giành nhau, phần chia không vừa ý, nghe đồn Liên Thành giải khuây và "nuôi chí lớn" tại các sòng bài!. Vốn là kẻ may mắn được đẻ bọc điều, có số đỏ của Xuân tóc đỏ, Liên Thành được một công ty thuê hành nghề chưởi mướn. Liên Thành  được công ty nầy trang bị "đồ nghề" (tools) là quyển Biến Động Miên Trung (BĐMT) do các ông  Nguyễn văn Học, Trần Tiển San biên soạn. Sân khấu để Liên Thành hành nghề chưởi là các Diễn Đàn do "thạc sĩ chưởi", có tên Phạm Trọng Luật, đảng danh là Chính Khí Việt. tên thánh là Joseph Phạm (từ nay, xin gọi là Joseph Phạm) làm đạo diễn.

Qua thử nghiệm ban đầu, dưới sự rèn luyện huấn dạy của thạc sĩ chưởi Joseph Phạm, Liên Thành đã chứng minh có năng khiếu thiên bẫm chưởi mướn.

Nếu xét về vận hên thì Liên Thành giống với Xuân tóc đỏ. Nhưng so về tư cách thi Xuân tóc đỏ hơn hẳn Liên Thành vì Xuân Tóc đỏ không biết chưởi, không biết dựng chuyện, không biết dùng sự mánh lới đê hèn để kiếm miếng ăn, không biết vênh váo của phường "giá áo túi cơm", của loại tiểu nhân đắc chí.

Công Ty thuê mướn Liên Thành có tên là Dư Đảng Cần Lao, có mật danh là Công Ty Ba Nhánh Trúc Nè. Hiện công ty đang hoạt động dưới bảng hiệu "Công Ty Hoài Ngô". Qua đại lý môi giới Ba Nhánh Trúc Nè, qua sự bảo đảm của Joseph  Phạm, qua  nhiều lần thử  nghiệm khả năng, Công Ty Hoài Ngô trực tiếp thuê  Liên Thành hành nghề chưởi mướn. Căn cứ vào hoạt động công ty nầy , chúng ta có thể ước đoán thành phần Lãnh Đạo - Điều Hành và thành quả như sau:

   I/ Tổ Chúc:
A/Hội Dồng Cố Vấn Tối Cao:
    1/ Chủ tịch :Tú Gàn tức Nguyễn Cần tức Lữ gian, (từ nay gọi là Tú Gàn) từng được giới giang hồ phong tặng  chưởi cao cấp, vì đã từng có thành tích dựng chuyện và chưởi lẫy lừng, đã từng được Tòa Án Hoa kỳ cấp Bằng qua buổi lể tại Tòa Án, trong buổi lễ nhận Bằng chưởi và dựng chuyện nầy Tú Gàn đã hân hạnh được khom lưng cúi đầu, quỳ gối dưới chân ông Bùi Bỉnh Bân .
                   2/ Thành Viên gồm:  
                       a/Cựu tướng đào ngũ tại mặt trận Nguyễn khắc Bình, cựu đảng Viên Cần Lao, đã  vì hoài bảo đoái công chuộc tội vì tham chức quyền quên liêm sĩ , tuyên bố ủng hộ Cách Mạng 1.11.1963 lật đổ Ngô đình Diệm ,từ  Ngô Tổng Thống "muôn năm"  thành  Ngô Tổng Thống "muốn nằm" , chủ tọa lễ ra mắt sách BĐMT cho cựu Thiếu tá đào ngũ tại mặt trận Xuân tóc đỏ thời đại Liên Thành.
                       b/Cựu Đại Tá CSQG đào ngũ tại mặt trận Trần minh Công , kẻ được Công Ty Hoài Ngô tuyên dương trong bản lượng giá là rất can đảm, dám vì đại cuộc Hoài Ngô mà lên sân khấu tung hô, công kênh tên Xuân tóc đỏ thời đại Liên Thành lên tận cõi chót vót.

               B/ Hội Đồng Điều Hành:
      1/Giám Đốc Điều Hành : Joseph Phạm, thạc sĩ chưởi, kẻ được giới giang hồ phong tặng "Độc Cô Cầu Bại" về môn chưởi thô tục nhất .
                2/Tư lịnh yếu khu truyền hình: chưởi tướng (trung tướng chưởi) Dương đại Hải, lâu la gồm các tên csqg>phudacuy, tieudietcs, Đặng Phúc, Bưu Nguyen, Tam cao, Trần tâm Trực…đang huấn luyện và tuyển mộ thêm. Sẽ công bố sau. Hiện chúng tôi thấy có kẻ đang ngồi chờ được phỏng vấn thử việc là ông Lý tòng Bá (nick name là Lá tòng Bí).
                 3/ Tư Lịnh Mặt Trận Âu Châu: TS Hồng Lĩnh tức Hồ nam Trân  (TS có thể làm thèm sướng hay tham sân chăng?)  Trân là đảng tôn của Cần Lao, cháu  của tên đại gian đại ác Phan quang Đông. Nghe nói, Trân nhờ  kế hoạch Hoài Ngô xây tượng "Ngô Lũng Thúng"  mà vừa được tí tiền còm, vừa được phong cấp Chí Sĩ Hoài Ngô.
                4/ Tư Lịnh Mặt Trận Hoa kỳ: là ông vừa "mát" (dây) vì ưa thay chữ "ph" thành "f", chữ  "d" thành "z" và tất cả đều dấu ngã ; vừa "thiu" vì cái gì cũng xía, nhưng  chẳng chẳng ra gì cả. Ai vậy ? xin thưa đó là Mathew Trần.
               5/ Trưởng toán ông "kẹ": MC Trần trung Chính đã diễn xuất thành công vai ông "kẹ" hù dọa cử tọa, trong buổi ra mắt sách của Thiếu tá đào ngũ Xuân tóc đỏ thời đại Liên Thành.

   II/ Phát triển: Mới đây, công ty đã có cuộc " giao dịch tiếp thị" (marketing)   có thể hứa hẹn ban phát quyền lợi (benefits) khá, vì kinh tế toàn cầu bị suy thoái, thất nghiệp đe dọa, nhưng thói ba hoa chích chòe ưa đấu hót không giảm. Nhờ vào tình huống thuận lợi nầy, Công Ty Hoài Ngô đã có những thành quả  giao dịch tiếp thị khả quan đáng khích lệ như sau:

          A/ Việt Thường đem toàn bộ cửa hàng "Hồn Việt" gồm cả hàng gian Trần lệ Tuyên về đầu quân.

          B/ Phương Thanh em dâu của ông kẹ thủ tướng lâm thời Đào Minh Quân được lịnh dẫn Liên Thành lên chương trính truyền hình 57.3 đề nói chuyện…. phách tấu!
Xin nhấn mạnh, Công Ty Hoài Ngô chỉ xét cấp và cho thăng tiến những kẻ chứng minh được khả năng và đẳng cấp: Biết Chưởi, Biết Dựng Chuyện và Biết Tự Nguyện Thành Kẻ Bất Cố Liêm Sĩ. Thí dụ:
Thiếu Tá đào ngũ tại mặt trận Xuân tóc đỏ thời đại Liên Thành đượ c Joseph Phạm tuyển dụng nhờ có da mặt dày hơn da trâu khi Liên Thành đã dựng  được ba hoạt cảnh:
      1/ Liên Thành tự chứng minh là kẻ lưu manh bất cố liêm sĩ  khi cáo gian nhà văn Bảo Quốc Kiếm tức ông Trương Khôi Cán Bộ Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn (XDNT) Thừa Thiên cũng là đảng viên cùng đảng với cha của Liên Thành và của ông Nguyễn Lý Tưởng là Trung sĩ CSQG, bị Liên Thành sa thải, nhục mạ ông Khôi là chứa gái…thâu thuế chợ. Khi bị  nhà văn Bảo Quốc Kiếm tức ông Trương Khôi thách tranh luận thì co giò, cong đuôi …lủi biệt dạng.
     2/ Liên Thành tự chứng minh là loại trôi sông lạc chợ, vô giáo dục gia đình khi Liên Thành  đem bà nội Liên Thành ra làm trò giải trí cho thiên hạ. Liên Thành kể chuyện khôi hài khó tin nhưng có thật của gia đình Liên Thành rằng: cha Liên Thành là ông Tráng Cử có tới ba người đàn bà cùng đẻ ra ông Tráng Cử, đó là
         a/ Một bà là em bạn dì ruột của Đức Đệ I Tăng Thống Thích Tịnh Khiết (thư Liên Thành gởi Hòa Thượng Quảng Độ và GS Võ văn Ái).
         b/ Một bà là chị bạn dì ruột của Đức Đệ I tăng Thống Thích Tịnh Khiết. ( tập san Phụng Hoàng số Xuân Canh Dần 2010 dưới tiêu đề "Trả lời chất vấn trong bài viết về Trịnh công Sơn" trang 59)
          c/ Một bà là là em ruột Đức Đệ I tăng Thống Thích Tịnh Khiết (thư Liên Thành hạch xách Hòa Thượng Thích Viên Lý)
Vậy có bao nhiêu người đàn bà sinh hạ ra ông Tráng Cử là cha của Liên Thành? Mừng cho ông Tráng Cử có tới sáu cái vú …mặc sức mà bú.
   3/ Liên Thành thuộc loại mất trí hay là kẻ bị đẻ rơi rớt vô thừa nhận:Không chịu là kẻ tầm thuờng hơn ông Tráng Cử. Nếu ông Tráng Cử có ba bà mẹ, thì Liên Thành cũng phải hoặc được ba người đàn bà sinh dẻ, hay nếu chỉ một người đàn bà thì người đàn bà phải đẻ Liên Thành đến ba lần. Câu chuyện bí mật được Liên Thành bật mí như sau: - Trang 205, Liên Thành viết: Đến tháng 5 năm 1972 Hoàng kim Loan vừa đúng 56 tuổi".(1972-56=1916) .Trang 208, Liên Thành cho biết thua Hoàng Kìm Loan 30 tuổi. Vậy LiênThành sinh năm 1946. (1916-30=1946) - Trang 107, Liên Thành học lớp đệ nhị B2 tại trường Quốc học Huế, niên khoá 57-58". Ít nhất 17 tuổi mới được học đệ nhị (1957-17=1940) vậy Liên Thành sanh năm1940.

Trang 108, Liên Thành là bạn học tiểu học với Nguyễn đắc Xuân, giấy khai sanh của Xuân là năm 1943. Vậy, Liên Thành sinh năm 1943 (???) Kết cuộc, có 3 Liên Thành, một sinh năm 1940, một sinh năm 1943, một sinh năm 1946 ( theo Trần Kiên Cường Feb. 17, 2010 – Nhật Ký Diễn Đàn).

 Như vậy, Liên Thành sinh tới ba lần, không rõ mẹ Liên Thành có "chung chạ" với ba kẻ đàn ông  cùng có tên Tráng Cử hay chỉ một ông Tráng Cử để "hợp đồng" mà sinh ra Liên Thành đến ba lần. Thật là tên bất lương vô đạo, Liên Thành đem cả mẹ Liên Thành để thiên hạ bỉ tiếu.
  III/ Mục Tiêu Tối Thượng của Công Ty Hoài Ngô: Như đã nêu rõ trong tên gọi, mục tiêu tối thượng của Công Ty Hoài Ngô là thay quần áo xiêm y, trang điểm. ngụy tạo, hay dùng bất cứ thủ đoạn nào, dù đê hèn, dù lưu manh, dù tráo trở. Nghĩa là bất chấp đạo lý, bất chấp lịch sử, bất chấp sự thật, bất chấp ráo trọi, để biến hóa từ một tên, một gia đình Việt gian tàn ác có truyền thống thuộc loại  "Tam Đại Việt Gian", từ một tên một gia đình có truyền thống phong kiến, từ một tên một gia đình có truyền thống tham vọng ích kỷ, xem Tổ Quốc là tư riêng, xem người dân chỉ là đám tôi đòi nô lệ, trở thành gia đình ái quốc, nhân ái, yêu nước thương dân. Phải biến hóa làm sao để một tên, một gia đình bị người dân thù hận than oán thành nhân vật thuộc loại Thánh  Thần siêu nhân và người dân phải bái vọng. Biến nạn nhân thành kẻ tội đồ; biến kẻ tội đồ thành nạn nhân và anh đấng anh hùng.

       Vì vậy, Công Ty Hoài Ngô nầy đã không biết đỏ mặt xấu hổ khi:

       1/ Sửa chửa, ngụy tạo hình ảnh như: Lấy hình ai đó cũng đầu trọc, cũng mặc áo nông sồng, nhưng không rõ mặt và chú thích là "Sư Đôn Hậu" đứng gác xác hồ chí minh,
2/ Thay đổi chi tiết trong cảnh lúc Bồ Tát Thích Quảng Đức lúc tự thiêu để vu cáo Ngài bị hảm hại,           
3/ Mới đây còn lấy hình của ai đó mang dáng vẻ người Âu Châu và ghi là hình ông Võ văn Ái trong nhóm phản chiến bị cảnh Sát Tây Đức bắt giữ.

                     Tin mới nhận được và đang cần phối kiểm:

Thấy Công Ty Hoài Ngô còn tuyển người và cũng dễ  kiếm ăn, Trần đình Ngọc tức Bút Xuân tức Trần công Tử, là đồng nghiệp với ông Phạm Long từng là xướng ngôn viên đài phát thanh và Truyền hình Little Sài Gòn, ông Phạm Long nầy vì tài cao nên "được "nghĩ việc, sau thời gian lang thang chốn Thiên Thai, về đầu quân cho ông Tô văn Lai trong chương trình Thúy Nga Paris phát thanh buổi tối tại  Quận Cam, hiện đang là nhân vật đồng sàng với ông Du Miên chung đài truyền hình với cô Phương Thanh (em dâu của ông kẹ thủ tướng Đào minh Quân).

Như thế, những nhân vật được Công Ty Hoài Ngô tuyển dụng và đang hành nghề thì gần như hầu hết đều là Thiên Chúa Giáo và cũng gần như hầu hết hoặc đã từng là đảng viên Cần Lao hoặc có dây mơ rể má với Cần Lao, để tiện xưng hô, từ nay gọi là dư đảng Cần Lao.

Như đã kính thưa phần trên, dù chúng tôi đã vì sự tồn vong của Tổ Quốc, vì quyền lợi chung của Dân Tộc, chúng tôi đã nén chịu nhục, đã van xin hãy đừng vì quyền lợi riêng, đừng vì nuối tiếc về một nhân vật đã đi vào lịch sử dù đi vào với vị trí gì để có những hành động cáo gian, xuyên tạc nhằm mục đích ti tiện nhỏ mọn là thỏa mãn sự căm thù vì đã bị mất miếng ăn. Đã lợi dụng sức tấn công của cộng sản để thao túng lịch sử, để sửa đổi lịch sử để vinh danh một chế độ độc ác, độc tài, để biến một gia dình tội đồ thành gia đình ái quốc.

Nói như thế, không thể loại trừ có sự bắt tay của dư đảng Cần Lao với bọn lưu manh bán nước Việt cộng hay bọn Tàu cộng cướp nước. Những thành phần bất hảo gian trá và phản quốc nầy đang phân chia vị trí để tấn công Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) dưới sự lãnh đạo tối cao của Ngài Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ và ngài Hòa Thượng Viên Định cùng với chư Tôn Đức, Cư Sĩ thuộc Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, cũng như chư Tôn Đức và quý vị Cư Sĩ thành viên lãnh đạo Văn Phòng II Viện Hóa Đạo.

           GHPGVNTN là một trong những lực lượng chủ yếu bảo vệ Tổ Quốc. Khi tấn công GHPGVNTN là làm suy yếu một lực lượng chủ yếu và quan trọng của Dân Tộc, chỉ có lợi cho Việt cộng bán Nước và Tàu cộng cướp. Những kẻ trong Công Ty Hoài Ngô nầy không phải không hiểu hành động như thế là tự bẻ bó đủa, tự chặt tứ chi chính mình, tự phá thủng phùng tuyến,  dâng chiến hào cho kẻ địch; là hành động của tên phản bội, là nối giáo cho giặc. Nhưng họ vẫn làm. Vậy họ là ai, nếu không phải là kẻ đang làm công cho kẻ địch, đang vì miếng ăn mà cam lòng làm tay sai cho giặc.

Chúng tôi sẽ tiếp tục xin hầu chuyện với quý vị trong những kỳ tới.

                                        Lê Nguyên Thanh
http://bit.ly/Q0fEpH

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 4


MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ

Bài số 4

HỒ TẤN VINH


LỰC LƯỢNG HÒA HẢO

Phật Giáo Hòa Hảo được thành lập năm 1939. Người sáng lập sanh tại làng Hòa Hảo nên có tên Phật Giáo Hòa Hảo.

Huỳnh Phú Sổ chống Pháp, bị Pháp nhốt vào nhà thương điên. Đó cũng là một cái bằng cấp oanh liệt. Huỳnh Phú Sổ chống Việt Minh, bị Việt Minh thủ tiêu, Giáo Chủ đã trở thành anh hùng của dân tộc.

Sau hai chế độ Diệm-Thiệu đến chế độ CS, vì lịch sử là của kẻ đương quyền, nên vai trò của nhân vật lịch sử Huỳnh Phú Sổ đã bị xuyên tạc chớ chưa có cơ hội được đánh giá đúng mức.

Phật Giáo Hòa Hảo là một phái mới của đạo Phật, chủ trương bải bỏ nghi lễ phiền phức, tu hành không cần chùa chiền, tượng đúc, tăng lữ. Lúc bấy giờ, tại miền Tây có hằng triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.

Ngoài vấn đề tôn giáo ra, Huỳnh Phú Sổ khi nhập thế là một người yêu nước độc đáo. Lúc khai đạo thì chủ trương bất bạo động, nhưng khi chống Pháp thì lại chủ trương cầm súng. Lúc liên kết với Mặt trận Việt minh, lúc tách rời ra khỏi Việt Minh, bề ngoài xem ra như có vẽ tiền hậu bất nhứt. Nhưng khi nghiên cứu kỹ thì mới thấy ở mỗi thời điểm, mỗi ứng biến đều minh bạch nằm trong lập trường dứt khoát chống xâm lăng, giành độc lập cho đất nước.

BS Nguyễn Minh Tân (Paris) có thuật lại cho tôi rằng năm 1945, lúc còn nhỏ ông tình cờ tham dự một cuộc tập họp tại sân vận động Trà Vinh. Huỳnh Phú Sổ mới tham quan miền Bắc trở về. Huỳnh Giáo Chủ thuật lại cho đồng bào miền Tây biết cái khổ của dân miền Bắc bị đói và kêu gọi cứu trợ. Ông đã nói chuyện hai tiếng đồng hồ mà không có chuẩn bị giấy tờ gì cả và ông đã làm cãm động đồng bào.

Ngày 14 tháng 3 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ cùng Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Trần Văn Ân và bảy tổ chức quốc gia khác thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt.

Sau này, khi Hồ Văn Ngà bị bắt, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt tan rả. Khoảng tháng 4 năm 1946, Huỳnh Phú Sổ do Nguyễn Văn Sâm hướng dẫn tiếp xúc với BS Lê Văn Hoạch, đại diện Cao Đài giáo và thành lập MẶT TRẬN QUỐC GIA LIÊN HIỆP. Bộ phận Chánh trị do Huỳnh Phú Sổ làm Chủ Tịch với bí danh Huỳnh Anh, BS Hoạch làm Phó Chủ Tịch, Nguyễn Văn Sâm làm Cố vấn Chánh trị. Bộ phận quân sự do Bùi Hữu Phiệt phụ trách, liên quân kháng chiến gồm có Bình Xuyên (Mười Trí), Đại Việt Quốc Dân Đảng (Bùi Hữu Phiệt), Việt Nam Quốc Dân Đảng (Phạm Hữu Đức) và Đệ Tứ (Nguyễn Thành Long).

Ngày 16 tháng 4 năm 1947, sau khi tham dự Hội nghị Ba Răng (làng An Phong tỉnh Long Xuyên) Đức Huỳnh Giáo Chủ bị Việt Minh bắt giữ và thủ tiêu ngày 20 tháng 4 năm 1947.

Bộ phận quân sự của Phật Giáo Hòa Hảo do các tướng Trần Văn Soái tự Năm Lữa (Trung Tướng), Lê Quang Vinh tự Ba Cụt (Thiếu Tướng), Lâm Thành Nguyên (Thiếu Tướng), Nguyễn Giác Ngộ (Thiếu Tướng) chỉ huy. Tổng Hành Dinh đặt tại Cái Vồn, Cần Thơ.

Các lực lượng Hòa Hảo này do các tướng lãnh tự mình thành lập nên hoạt động riêng biệt. Lực lượng của tướng Lê Quang Vinh hoạt động mạnh nhứt và có tánh cách cách mạng. Đại Tá Lansdale đem tiền xuống miền Tây định mua chuộc Ba Cụt như đã từng mua chuộc được Trịnh Minh Thế, Nguyễn Thành Phương một cách hết sức dễ dàng. Nhưng không dè Ba Cụt chẳng những cự tuyệt mà còn phục kích bắn cảnh cáo Lansdale. Bị thương, Lansdale trở về Saigon tức giận lắm.

Không giống như cái bất trung của một số quân nhân Cao Đài, những lực lượng Hòa Hảo tuyệt đối tuân hành lệnh của Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ lúc Ngài còn sống và sau này cũng vẫn như vậy. Tướng Lê Quang Vinh tự chặt ngón tay mình thề trung thành với Giáo Chủ nên có biệt danh Ba Cụt.

Năm 1954, Lực lượng Hòa Hảo có khoảng 30.000 quân.



HỒ TẤN VINH
Melbourne
Ngày 5 tháng 10 năm 2012
 (Còn tiếp)



Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí

Một pho tượng Phật Giáo tạc bằng thiên thạch đã được khám phá từ năm 1938

Hoang Phong biên soạn

Lá thư tháng 10 / 2012 của Viện Nghiên Cứu Phật Học (Institut d'Etudes Bouddhiques) tại Pháp có đưa một tin khá… "hấp dẫn" !: "Một pho tượng Tây Tạng... từ trên trời rơi xuống!". Thật ra thì đây là một câu chuyện khá kỳ thú đã được các hãng thông tấn và báo chí trên thế giới đưa tin. Hai bản tin tiêu biểu nhất được chuyển ngữ dưới đây là của Viện Nghiên Cứu Phật Học tại Pháp và của tổ hợp báo chí Le Monde.

Photo-AFP - Namo Buddhaya

(Hình của AFP, Elmar Buchner / Stuttgart)

1- Bản tin của Viện Nghiên Cứu Phật Học tại Pháp

Một pho tượng Tây Tạng... từ trên trời rơi xuống!

Câu chuyện cứ tưởng như là trong một cuốn phim mạo hiểm giả tưởng của Indiana Jones thế nhưng lại là chuyện có thật! Theo một bài báo trên tập san chuyên ngành Meteoritics and Planetary Science ("Thiên Thạch và Hành Tinh Học") thì các nhà thiên văn học người Đức vừa cho biết là có một pho tượng Phật Giáo tạc bằng thiên thạch xưa một ngàn năm đã được một phái bộ thám hiểm của Đức Quốc Xã trước đây đã khám phá vào năm 1938 ở Tây Tạng. Các khoa học gia đặt tên cho pho tượng này là "Người bằng Sắt", bởi vì pho tượng chỉ cao 24 phân thế nhưng lại cân nặng đến 10 Kí-lô. Pho tượng biểu trưng cho Vaisravana, là vị " Vua Phật Giáo nơi Phương Bắc", và người Tây Tạng thì gọi là Jambhala (Đa Văn Thiên / tiếng Hán: Douwen-tianwang / tiếng Nhật: Bishamon-ten, là một vị thần Phật Giáo rất được nhiều người biết đến).

Pho tượng được một phái bộ khoa học Đức Quốc Xã khám phá vào năm 1938 ở Tây Tạng, khi họ đến đây để dò tìm nguồn gốc của "giống dân Arya" (chữ Arya trong tiếng Phạn có nghĩa là những người cao cả. Người Đức Quốc Xã tự cho mình là thuộc vào giống dân siêu việt này và đã gửi phái bộ đến đây để dò tìm gốc gác của tổ tiên họ). Người ta vẫn chưa biết rõ trong trường hợp nào pho tượng này lại bị nhóm người Quốc Xã tóm thu, có thể là vì lý do trên bụng của pho tượng có khắc một chữ Vạn (Swastika) thật lớn, và chính ký hiệu này đã khiến cho phái bộ Đức chú ý nên đã mang pho tượng này về Đức (chữ Vạn cánh quay về phía phải - dextrorotation - được sử dụng để biểu thị cho chủ nghĩa Quốc Xã từ năm 1920. Chữ vạn với cánh quay sang bên trái - levorotation - là một biểu thị Phật Giáo thường thấy khắc trên các pho tượng Phật và các vị Bồ-tát. Thật ra thì dấu hiệu này đã xuất hiện vào khoảng 2500 năm đến 3000 năm trước công nguyên ở nhiều nơi trên địa cầu và thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau). Sau khi mang về Đức thì pho tượng được lưu trữ tại thành phố Munich trong một bộ sưu tập tư nhân, và đã được đem ra bán đấu giá vào năm 2007. Nhờ dịp này mà pho tượng mới được các khoa học gia biết đến. Một nhóm chuyên gia của Viện Hành Tinh Học thuộc đại học Stuttgart (của Đức) dưới sự hướng dẫn của giáo sư Elmar Buchner đã nghiên cứu pho tượng "Người bằng Sắt" này và khám phá ra là tượng được tạc từ một khối thiên thạch (đá từ trên trời rơi xuống địa cầu) thuộc loại giàu chất sắt và rất hiếm.

2- Bản tin của báo Le Monde (28.09.2012)

Số phận lạ lùng của một pho tượng Tây Tạng tạc bằng thiên thạch đã bị những người Đức Quốc Xã đánh cắp. Quả thật đây là một câu chuyện đầy kịch tính: câu chuyện về một pho tượng Tây Tạng được tạc bằng thiên thạch và đã bị những người Đức Quốc Xã đánh cắp. Trang web của nhật báo The Guardian ngày thứ sáu 28 tháng 9 (2012) đã đưa tin về một pho tượng nhỏ xưa một ngàn năm, mang tên là "Người bằng Sắt" biểu trưng cho vị thần Vaisravana - một vị thần Phật Giáo bảo hộ cho xứ Tây Tạng.

Vào thập niên 1930 pho tượng này bị đám quân cận vệ SS của Hitler (SS là cách gọi tắt của chữ SchutzStaffel, tên gọi của đám cận binh được thành lập để bảo vệ Hitler và chủ nghĩa Phát Xít) đánh cắp. [Thời bấy giờ] Các người Phát Xít Đức rất quan tâm đến Tây Tạng và đã gửi người đến đây để dò tìm nguồn gốc của "giống dân Arya" (mà họ cho là giống dân thượng thặng thuộc "tổ tiên" của họ). Pho tượng cao 24 phân, mang ký hiệu hình chữ thập Swastika - một dấu hiệu của Ấn Giáo và Phật Giáo biểu trưng cho sự may mắn và trường tồn, và đồng thời cũng biểu trưng cho bánh xe của sự hiện hữu (sinh, khổ đau, chết và tái sinh).

Theo báo The Guardian thì pho tượng đã được giấu kín trong một bộ sưu tập tư nhân và đã được đem ra bán vào năm 2007. Sau đó pho tượng được đưa đến trình với Tiến sĩ Elmar Buchner của đại học Stuttgart ở Đức để nhờ phân tích. Kết quả là: pho tượng được tạc từ một khối thiên thạch thuộc vào nhóm ataxite - "một loại thiên thạch vô cùng hiếm hoi đã rơi xuống địa cầu". Khối thiên thạch này rơi xuống mặt đất cách nay khoảng 10.000 đến 20.000 năm trong một vùng nằm vào ranh giới giữa Đông Tây-bá-lợi-á (Siberia) và Mông Cổ. Khối thiên thạch chỉ lọt vào tay người Tây tạng về sau này và đã được tạc thành tượng vào khoảng thế kỷ thứ XI, tức là vào thời kỳ mà Phật Giáo đang trên đà phát triển mạnh mẽ ở Tây Tạng và lấn át hẳn tôn giáo cổ truyền của xứ này là đạo Bön (đạo thờ cúng các thần linh). Theo báo The Guardian thì Tiến sĩ Buchner cho biết rằng nếu câu chuyện khám phá trên đây được xác nhận thì chắc chắn là pho tượng sẽ phải biểu trưng cho "một giá trị vô song và độc nhất trên thế giới".


Có thể xem thêm:
-Báo "The Guardian" (tiếng Anh) : http://www.guardian.co.uk/world/2012/sep/28/nazi-buddha-statue-carved-from-meteorite

-Viện Nghiên Cứu Phật Học của Pháp (tiếng Pháp): //www.bouddhismes.net/node/1261-

-Báo "Le Monde" (tiếng Pháp) : http://bigbrowser.blog.lemonde.fr/2012/09/28/

-Báo "La Croix" (tiếng Pháp): http://www.la-croix.com/Semaine-en-images/Le-bouddha-decouvert-en-1938-se-revele-etre-taille-dans-une-meteorite-_NG_-2012-09-27-858420
- v.v...

Bures-Sur-Yvette, 03.10.12
Hoang Phong biên soạn

04 October 2012

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ - Bài số 3

MỘT CÁI NHÌN LỊCH SỬ

Bài số 3

HỒ TẤN VINH

LỰC LƯỢNG CAO ĐÀI

Đạo Cao Đài thành lập năm 1919. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc chống Pháp, tháng 7 năm 1941, ông bị mật thám Pháp bắt, tháng 9 năm 1941 bị Pháp đày qua đảo Madagascar cùng với một số chức sắc Cao Đài và anh em Nguyễn Thế Truyền. Đó là cái bằng cấp mà nhiều người làm dáng ái quốc muốn có mà không dám dấn thân đi thi.

Người có công thành lập quân đội Cao Đài là tướng Trần Quang Vinh. Trần Quang Vinh trong thời gian Nhựt chiếm đóng, làm việc tại xưởng Ba Son chung với người Nhựt và được người Nhựt tin cậy nên được Nhựt giúp khí giới cho quân đội Cao Đài. Tuớng Trần Quang Vinh là Tổng Tư Lệnh đầu tiên. Năm 1946, Tướng Trần Quang Vinh bị Việt Minh bắt và có bị nhốt chung với Hồ Văn Ngà tại Cà Mau. Sau đó, Trần Quang Vinh thoát thân được nhưng Hồ Văn Ngà bị giết.

Năm 1946, Pháp thay đổi chánh sách, trả tự do cho
Đức Hộ Pháp đồng thời trang bị và huấn luyện quân đội Cao Đài để chống CS.

Tổng Hành Dinh đặt tại Bến Kéo, Tây Ninh. Quyền hạn kiểm soát khoảng 13 tỉnh miền Nam. Chỉ Huy Trưởng lúc bấy giờ là Trung Tướng Nguyễn Văn Thành.

Nguyễn Văn Thành, con người khắc nghiệt, chẳng những đối với CS mà cả đối với binh sĩ của mình. Cán bộ CS gặp Nguyễn Văn Thành là kể như hết thời, vì sẽ có màn tùng xẻo trước khi đem giết. Nguyễn Văn Thành đàn áp Cao Đài Liên Minh nên bị Đức Hộ Pháp cách chức tháng 4 năm 1954.

Cựu Tướng Trần Quang Vinh thay thế.
Tháng 7 năm 1954, chỉ vì tham vọng cá nhân, Nguyễn Thành Phương (có bà con với Trịnh Minh Thế) âm mưu với Trịnh Minh Thế ban đêm bắt cóc tướng Trần Quang Vinh đem giam ở núi Bà Đen. Đức Hộ Pháp bất đắc dĩ phải cho Nguyễn Thành Phương chỉ huy quân đội Cao Đài với cấp bậc Thiếu Tướng.
Có 20.000 quân.
Trịnh Minh Thế
Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc gắn lon Đại Tá cho Trịnh Minh Thế lúc ông mới có 29 tuổi và phong Trịnh Minh Thế làm Tham Mưu Trưởng quân đội Cao Đài lúc Nguyễn Văn Thành làm Chỉ Huy Trưởng. Nhưng trong lúc Nguyễn Văn Thành thân Pháp chống Việt Minh thì Trịnh Minh Thế chẳng những chống cộng mà chủ trương chống Pháp nữa, nên tháng 6-1951, Trịnh Minh Thế bí mật tách rời, lập chiến khu ở rừng Trầu, vùng rừng núi Tây Ninh ăn thông qua Miên. Tướng Thế bí mật liên lạc với các nhân sĩ ở thành như Vũ Hồng Khanh, Xuân Tùng, Trần Văn Văn, Trần Văn Tuyển, Nguyễn Xuân Chữ . . . để nhờ đề ra một kế hoạch công tác chánh trị. Hội nghị đồng ý đặt tên cho tổ chức là Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến và về mặt quân sự thì đặt tên là Cao Đài Liên Minh. Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Trịnh Minh Thế là người duy nhứt chủ trương đúc súng đạn để tự lực, tự cường.
Có 2.500 quân.
Các tướng Cao Đài này mỗi người một ý. Thường khi chống đối nhau ra mặt và có khi nã súng vào nhau, nhưng đáng tiếc hơn nữa, họ dễ bị mua chuộc, để rồi phản bạn, phản Thầy. Hồ Hán Sơn tóm tắt tình hình rối ren của Cao Đài như sau: 'Giáo chủ Phạm Công Tắc là một người chân tu, ông không tin tường về chính trị mà cũng không hiểu về quân sự, lại không có một bộ tham mưu và cố vấn thường trực bên giáo chủ. Về quân sự lại giao cho những kẻ bất tài' (Lê Trọng Văn, Tr. 105)

HỒ TẤN VINH
Úc Châu
Ngày 4 tháng 10 năm 2012
(Còn tiếp)


Những bài viết của tác giả Hồ Tấn Vinh được lưu trữ tại Khai Dân Trí