24 July 2013

CÁCH MỸ CHỌN ĐỒNG MINH TẠI CHÂU Á: TRƯỜNG HỢP NGÔ ĐÌNH DIỆM

Lý Nguyên Diệu

Cuộc chiến Việt Nam từ 1954 đến 1975 đã chia các tác giả Mỹ viết sách chính trị ra làm hai phe: Chống đối và Ủng hộ, mà họ mệnh danh là phái "chính thống" (orthodox) và phái "xét lại" (revisionist).

Một cách tổng quát, phái Chính thống gốm những tác giả như N. Chomsky, D. Halberstam, F. Fitzgerald, W. Fishel với quan điểm nước Mỹ đã sai lầm khi can thiệp vào Việt Nam mà Nam Việt Nam là một "đồng minh" bất lực. Phái Xét lại gồm những tác giả như E. Hammer, N. Podhoretz, M. Moyar thì chủ trương ngược lại. Điều đáng chú ý là những tác giả thuộc Chính thống lại gồm rất nhiều người trong quá khứ đã từng ủng hộ ông Ngô Đình Diệm như J. Buttinger, M. Mansfield, D. Anderson và ngay cả Hồng Y Spellman nhưng sau đó thì hoàn toàn thất vọng, thậm chí còn chống đối lại ông Diệm và chế độ của ông ta.

 
Cho độc giả người Việt, những tác giả thuộc phái Xét lại thường phạm những lỗi lầm căn bản về văn hoá Việt Nam làm cho không còn tin tưởng để đọc tiếp. Lấy thí dụ của hai trường hợp tiêu biểu:
 
Thứ nhất là Francis X. Winters, giáo sư Đại học Georgetown, tác giả cuốn "The Year of the Hare: America in Vietnam", University of Georgia Press xuất bản năm 1988. (Được hai ông cựu Bộ trưởng chế độ Diệm là Lâm Lễ Trinh và Tôn Thất Thiện, dĩ nhiên, hết lời ca ngợi). Sách nầy có những sai lầm như: Hồ Chí Minh sinh ở bên bờ sông Hương ở Huế, Thích Trí Quang là một luật sư thành công, đường mòn Hồ Chí Minh bắt đầu năm 1962. Ông Winters đã phải thú nhận những lỗi lầm sơ đẳng nầy khi bị một độc giả nêu ra trên tập san hữu khuynh National Review năm 1989. Điều đáng buồn là ngay cả cái tựa sách ("The Year of the Hare" -để chỉ năm Qúy Mão, của cuộc đảo chánh 1963) đã cho thấy tác giả không phân biệt được văn hoá Việt và Tầu.
 
Thứ hai là Mark Moyar, giáo sư Đại học Thủy quân Lục chiến Mỹ, tác giả cuốn "Triumph Forsaken: The Vietnam War 1954-1965", Cambridge University Press xuất bản năm 2006. (Cũng lại được ông Lâm Lễ Trinh khen ngợi hết lời). Cuốn sách nầy cũng chú trọng đến thời kỳ cai trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng phân tích của tác giả thì quá sức nông cạn. Khi nói về ông Ngô Đình Nhu, tác giả khen là "một vị lãnh đạo tài giỏi, đã làm cho ông trở thành một trong những nhà tổ chức chính trị hữu hiệu nhất của Nam Việt-Nam."(trang 35) Người Việt Nam, kể cả trùm mật vụ Trần Kim Tuyến (trong sách "Những Huyền Thoại và Sự thật về Chế độ NĐD" của Vĩnh Phúc) cũng phải chê đảng Cần Lao Nhân Vị, tổ chức Thanh Niên Cộng Hoà (TNCH) mà ông Nhu làm Thủ lãnh. Nói về "hữu hiệu" thì ai cũng biết trong ngày đảo chánh 1/11/63, cả cái tổ chức TNCH ấy chỉ có một ông Cao Xuân Vỹ làm việc, còn Phong trào Cách mạng Quốc gia và nhất là đảng Cần Lao Nhân Vị trước đó hét ra lữa thì nay hoàn toàn lặn đi đâu mất. Ba lực lượng chính trị do ông Ngô Đình Nhu "tổ chức" đó, khi chế độ lâm nguy và lãnh tụ bôn tẩu, thì tan như bọt xà phòng ! Còn cuộc đảo chánh giả Bravo do chính ông Nhu tổ chức bằng cách dựa vào tướng Tôn Thất Đính thì ông tướng nầy đã bị Đại tá Đỗ Mậu "tổ chức" rồi. Ngoài ra, cuốn sách dày 512 trang của Moyar phân tích chế độ Diệm mà chỉ nhắc tên ông Ngô Đình Thục 2 lần trong … 2 dòng, trong khi nhà văn hoài Ngô của năm 2010 là Nguyễn Văn Lục cũng phải công nhận rằng hai người có trách nhiệm nặng nhất làm cho nhà Ngô sụp đổ là ông Giám mục Thục và bà Ngô Đình Nhu.
 
Với những tác giả như vậy trong phái Xét lại, tác phẩm của giáo sư Seth Jacobs đã xuất hiện như một hải đăng chửng chạc chiếu sáng vào vùng sương mù của một cuộc tranh chấp đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi.
 
Tác phẩm "America's Miracle Man in VietNam – Ngo Dinh Diem, Religion, Race, and U.S. Intervention in Southeast Asia" của tác giả Seth Jacobs, giáo sư Sử học tại Boston College, nguyên là một luận án tiến sĩ viết năm 1997. Sau đó, ông đã thu thập thêm tài liệu mới giải mật và cập nhật hoá rồi xuất bản cuốn sách nầy năm 2004 và tái bản năm 2006 (Duke University Press). Chủ đề của luận án nầy là lý do vì sao người Mỹ can thiệp vào Việt Nam và về sau đã trở thành một lỗi lầm tàn khốc cho "đồng minh" Việt Nam và cho chính cả nước Mỹ mà một nửa thế kỷ sau vẫn còn nhiều di chứng. Đó là một cái nhìn can đảm vì tác giả đã đề cập đến hai chủ đề "không nên bàn cải": Tôn giáo và Chủng tộc. Một cách tổng quát, luận án của Seth Jacobs gồm hai phần chính. Bốn chương đầu chứng minh chính sách ngoại giao của Mỹ sau Đệ Nhị Thế chiến bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố: Tôn giáo, Chủng tộc và Chủ thuyết Cộng sản. Hai chương cuối phân tích tiến trình quyết định của chính quyền Mỹ đã dựa trên ba yếu tố đó để chọn ông Ngô Đình Diệm về Sài Gòn lãnh đạo một "tiền đồn chống Cộng cho thế giới tự do" của Mỹ.
 
Phần đầu của sách phân tích 3 yếu tố chỉ đạo của chính sách đối ngoại Mỹ sau thế chiến thứ Hai có thể tóm lược như sau:
 
■ Về Tôn Giáo, luân lý nước Mỹ được dìu dắt bởi những khuôn mặt đáng nể như Mục sư Billy Graham (Tin Lành), Hồng y Francis Spellman (Công giáo). Mục sư Graham là bạn của 11 đời Tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Obama, và sở hữu một đế quốc truyền đạo (evangelical empire) khổng lồ. Đặc biệt Hồng y Spellman, theo đúng đường lối chống Cộng sản triệt để của Vatican, nắm chức Tổng Tuyên úy của quân đội Mỹ (Military vicar of the U.S. armed forces). Khi qua Việt Nam năm 1955, dù chỉ là một chức sắc tôn giáo, ông dược Tổng thống Diệm tiếp đón như một quốc khách với đại tiệc tại Dinh Độc Lập. Năm 1952, Kinh thánh bán được 26.5 triệu cuốn trên toàn nước Mỹ. Hai siêu đại gia trong ngành truyền thông là DeWitt Wallace và Henry Luce, đều là con các nhà truyền giáo Tin lành, và siêu đại gia thứ ba là Randolf Hearst Jr. đã sử dụng tối đa các cơ quan truyền thông để truyền đạo Chúa dù tờ báo của họ là Life, Time, hay Popular Science, Mademoiselle, Fortune. Tác giả Jacobs cũng đã dành nguyên một chương (số Bốn) để nói về bác sĩ quân y Tom Dooley là một người Công giáo cuồng tín, kỳ thị chủng tộc đã gián tiếp đẩy nước Mỹ dính vào với Việt Nam qua cuộc di cư năm 1954 trong hình ảnh một đại thảm họa Cộng sản đang ụp lên đầu những người Việt Nam (mà ông thường gọi là "dân Á Đ ông" (the Asians) yếu đuối, khờ dại, dốt nát.
 
 
■ Về Chủng Tộc, giữa thế kỹ 20, người dân Mỹ có một khái niệm rất mơ hồ về những quốc gia ngoài nước Mỹ. Nhất là các nước Phi châu và Á châu. Sự "mơ hồ" nầy đưa đến tình trạng tổng quát hóa chủng tộc, coi tất cả dân Phi châu là da đen (Black) và dân Á châu là da vàng mà người Mỹ gọi là "Asian". Siêu đại gia Henry Luce đã khởi đầu tình trạng nầy bằng cách yểm trợ nhà văn James Michener xuất bản một loạt sách về Á châu để "dạy" người Mỹ những "sự thật" về một giống dân Á châu "đơn giản, ngu dốt, vô chính trị" chưa thể có khả năng để tiếp nhận và sử dụng những khái niệm của Tây phương như dân chủ, tự do, nhân quyền. Bên cạnh đó, Hollywood cũng sản xuất những phim như The King and I, Sayonara, The Geisha Boy, … đưa ra hình ảnh những người Á Đông, chậm chạp, bán khai cần được "khai hoá". Ngay cả cuốn "The Quiet American" nổi tiếng của Graham Green, được phe tiến bộ khen tặng nhưng khi nói về Phượng, người tình của ký giả Fowler, tác giả cũng cho thấy một cô gái Việt Nam da vàng ngu ngơ và an phận.
 
■ Về chủ thuyết Cộng sản (đang được xây dựng ở Nga Sô và Trung Quốc) người Mỹ được giáo dục từ trong trường học ra đến cuộc sống thực tiển rằng đây là hiểm họa lớn nhất của nước Mỹ về kinh tế (Tư bản chống Vô sản), về chính trị (Tự do, Dân chủ chống Độc tài, Độc đảng), về văn hoá (Tự do tư tưởng chống Kiểm duyệt tư tưởng), về tôn giáo (Hữu thần chống Vô thần), về quân sự (Bom A chống Bom A). Năm 1954, sau khi Trung Hoa lục địa và Bắc Hàn trở thành Cộng sản, Tổng thống Eisenhower nhìn Việt Nam như con bài thứ ba sẽ rơi vào tay Cộng sản và ông đã đưa ra "thuyết Domino" làm cho nước Mỹ càng cương quyết hơn trong chủ trương chống Cộng.
 
Phần thứ hai của cuốn sách đặt trọng tâm trên tiến trình chọn lựa đồng minh của Mỹ dựa theo ba tiêu chuẩn đã trình bầy để hoàn tất chiến thuật "ngăn chận Cộng sản Nga Tầu" (containment) của nhà ngoại giao George F. Kennan. Là đồng minh với Mỹ nghĩa là trước hết phải chống Cộng, thứ hai là phải không có vấn đề chủng tộc, thứ ba là theo môt tôn giáo mà người Mỹ cảm thấy thoải mái.
 
Theo những tiêu chuẩn nầy, các nước Tây Âu da trắng theo đạo Thiên chúa và chống Cộng được coi như đồng minh hạng số một. Và Mỹ đã lập ra NATO (Tổ chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương) năm 1949 để làm trái độn cho Mỹ chống Nga Sô ở ngay bên cạnh các nước Tây Âu. Cũng phải nói thêm trường hợp nước Ý sau Đệ Nhị Thế Chiến, tuy có một đảng Công sản rất mạnh (năm 1970 vẫn có 1/3 dân Ý bầu phiếu cho đảng nầy), nhưng vẫn được Mỹ nhận cho làm hội viên của NATO là vì sự có mặt của Vatican tại La-Mã có khả năng hoá giải ảnh hưởng của chủ thuyết vô thần nầy.
 
Xong phần NATO chống Nga Sô đến phần chống Tàu, nước Mỹ sửa soạn một "vòng đai ngăn chận" gồm 9 nước từ Nhật qua Hàn quốc xuống Đài Loan, Phi Luật Tân, Việt Nam Cộng Hoà, Indonesia, Thái Lan, Miến Điện và Ấn Độ. Trong 9 nước nầy, Ân Độ là cựu thuộc địa của Anh quốc nên nước Mỹ không dính vào. Thái Lan và Miến Điện có đạo Phật là quốc giáo và Indonesia có đại đa số dân theo Hồi giáo làm cho thành phần thân Do Thái trong chính quyền Mỹ không muốn liên hệ chặt chẽ.
 
Chỉ còn lại Đài Loan, Phi Luật Tân, Nam Hàn, Việt Nam Cộng Hoà và Nhật bản. Theo tác giả Seth Jacobs, đây là những nước có lãnh tụ chính trị theo đạo Thiên Chúa, trừ Nhật, đã được chính quyền Mỹ chọn làm "đồng minh" dựa theo ba tiêu chuẩn kể trên, trong những năm đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh.
 
1. ĐÀI LOAN: Từ khi thay thế Tôn Dật Tiên làm Tổng thống Trung Quốc và Chủ tịch Quốc Dân đảng năm 1928, Thống chế Tưởng Giới Thạch phải cầm đầu cuộc chiến chống quân xâm lăng Nhật và cuộc nội chiến chống Cộng sản của Mao Trạch Đông. Một năm sau, ở tuổi 42, khi muốn cưới Tống Mỹ Linh, vốn là con gái một nhà truyền giáo, Tưởng Giới Thạch đã ly dị vợ rồi đổi từ một Phật tử thành tín đồ đạo Tin lành (tương tự như ông tướng Nguyễn Văn Thiệu bỏ đạo Phật theo đạo vợ). Và (cũng như ông Ngô Đình Diệm) họ Tưởng được báo Time năm 1931 đăng hình bìa nhiều lần và ca ngợi là "nhân vật vĩ đại nhất của Viễn Đông". Ông được báo chí Tin Lành và Công giáo tranh nhau phỏng vấn (hệt như ông Diệm, họ ca ngợi Tưởng Giới Thạch là một người "ngoan đạo và thánh thiện") đến nổi nhiều nhà phân tích đã nghĩ là Tưởng Thống chế đang sử dụng tối đa chuyện đổi đạo của mình để lấy lòng dư luận Mỹ. Nhưng dù được sự ủng hộ triệt để về quân sự, kinh tế, chính trị và nhất là của giới truyền thông Mỹ, chế độ độc tài, tham nhũng quá độ của Tưởng Giới Thạch cũng đã đại bại trước Hồng quân của Mao Trạch Đông.
 
Năm 1949, Thống chế họ Tưởng xách tàn quân chạy qua tỵ nạn ở đảo Đài Loan, mơ một ngày về giải phóng Bắc Kinh không bao giờ trở thành hiện thực. Dù vậy, Tưởng Thống chế vẫn được Thiên Chúa giáo Mỹ tiếp tục bênh vực. Dân biểu Walter Judd, một cựu giáo sĩ từng truyền giáo bên Trung Quốc, đã không ngượng ngùng bênh họ Tưởng: "Chúng ta không đòi hỏi kẻ thù phải cải tổ, nhưng với đồng minh thì chúng ta bắt phải có dân chủ, phải tôn trọng nhân quyền – ngay tức khắc. Dân Mỹ đã chờ 175 năm mới có được một nền dân chủ nhưng Nam Hàn, Đài Loan, Nam Việt Nam thì phải có dân chủ ngay tức khắc … Đối với dân Á đông, đây qủa là một sự khó hiểu. Tưởng Giới Thạch, không phải là một kẻ ngoại đạo, dã man mà là một con chiên của Chúa." Nhận xét cuồng tín nầy cũng không khác gì câu c ủa một ông Linh mục Việt Nam khác: "Ông Thiệu là một người tôi kính phục, một người có tinh thần quốc gia cao độ và cương quyết chống Cộng. Ông Thiệu là một người Công giáo đạo đức, chủ nhật nào cũng di nhà thờ xem lễ, và trước khi đi ngủ hai ông bà cùng nhau đọc kinh." ("Bên Giòng Lịch Sử 1940-1975", Cao Văn Luận, trang 363 - Nghĩa là Linh mục Luận có mặt trong dinh Độc Lập mỗi đêm trước khi ông bà Thiệu đi ngủ!)
 
2.PHI LUẬT TÂN: Ramon Magsaysay là một sĩ quan theo đạo Công giáo trong quân đội Phi Luật Tân. Ông đắc cử tổng thống năm 1953 với lập trường chống Cộng sản triệt để và đồng minh chặt chẻ với Mỹ. Tổng thống Magsaysay chết quá sớm trong một tai nạn máy bay năm 1957 nên khó có thể đi đến một kết luận rõ ràng về mối liên hệ giữa ông và Mỹ ngoài hai thành qủa rất được người Mỹ ca tụng: Tiêu diệt lực lượng Phi Cộng Hukbalahap và giúp Mỹ thành lập Tổ chức Minh ước Đông Nam Á (SEATO) vào năm 1954 để bao vây Trung Cọng. Magsaysay là một trong những trường hợp hiếm hoi mà liên hệ đồng minh của Mỹ có thể được coi như là thành công.
 
Kết qủa nầy đến từ sự kiện ông Magsaysay đã đạt được cao điểm trong cả ba yếu tố chọn lựa đồng minh của Mỹ. Chính trị và truyền thông Mỹ ủng hộ ông tối đa vì hai yếu tố Công giáo và chống Cộng. Bên cạnh đó, yếu tố chủng tộc cũng không là một trở ngại vì sau ba thế kỷ rưỡi liên tục bị đô hộ bởi ba đế quốc Thiên Chúa giáo(Tây Ban Nha, Anh và Mỹ), Phi Luật Tân đã thành một quốc gia không còn căn cước văn hóa đặc thù của chính mình nữa: Quốc gia nầy mất tên:: "Philippines" lấy từ tên của dòng họ Philip của các vua Công giáo Tây Ban Nha. Và mất ngôn ngữ vì tuy tiếng nói chính thức là Tagalog, nhưng cả nước, nhất là giai cấp từ trung lưu trở lên chỉ dùng tiếng Anh (ngay cả trong những hồ sơ chính thức), hệ qủa của một chương trình giáo dục sâu đậm và rộng rãi của các trường Giòng Công giáo trong thời kỳ đô hộ giống như người Pháp đã cố gắng áp dụng ở Việt Nam. Tuy Phi Luật Tân làm tròn bổn phận "tiền đồn chống Cộng" cho Mỹ, nhưng xã hội Phi vẫn nổi tiếng với nạn đĩ điếm và tội ác xã hội dù hơn 80% dân Phi theo đạo Công giáo, người dân Phi vẫn nghèo đói dưới những chế độ độc tài, tham nhũng như Ferdinand Marcos (hãy tưởng tượng Việt Nam không có một Tổng thống Ngô Đình Diệm mà thay vào đó mọi người sẽ suy tôn Tổng thống Gioan Baotixita Ngô Muôn Năm!).
 
3.NAM HÀN: Tổng thống Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) có khá nhiều điểm giống ông Ngô Đình Diệm. Ông xuất thân từ một gia đình quyền qúy. Trước khi nắm chính quyền ông trãi qua một thời gian ở Mỹ. Ông được chính quyền Mỹ ủng hộ vì đã đổi theo đạo Chúa (Tin Lành) và rất chống Cộng. Báo Reader's Digest tuyên dương ông là một "nhà lãnh đạo Gia tô vĩ đại". Cũng như Tổng thống Diệm sau khi dẹp được các giáo phái, Lý Tổng thống đã được tướng James Van Fleet, Tư lệnh Quân đoàn 8 của Mỹ ở Nam Hàn khen ngợi: "Lý Tổng thống đã biến đổi một quốc gia lạc hướng và hỗn loạn thành một trong những tiền đồn chống Cọng hùng mạnh nhất thế giới". Tuần báo Time của đại gia Henry Luce so sánh ông với George Washington và, trong tinh thần "khai hoá" kiểu thực dân Tây, đã cho rằng dân trí Hàn Quốc "chưa phát triển đến mức có thể có một nền dân chủ kiểu Jefferson của Mỹ". Năm 1945, Nhật bản bại trận, ông theo quân Mỹ về nước. Ba năm sau ông được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc như ông Diệm năm 1955. Trong thời kỳ nắm quyền, chế độ Lý Thừa Vãn cũng có một nét giống chế độ Diệm là dùng lý do chống Cộng để đàn áp đối lập dù đó là những người đã từng cùng với ông kháng chiến chống đế quốc Nhật như Kim Ku, Yo Woon Young.
 
Lý Tổng thống có ba điểm khác căn bản với ông Diệm là (1) ông đã đổi từ gốc đạo Phật qua đạo Tin Lành, (2) chẳng những không hợp tác mà còn tham gia kháng chiến vừa chống Nhật vừa chống chế độ quân chủ của dòng họ Yi và bị đi tù 6 năm, và (3) khi bị dân chúng, sinh viên phản đối chế độ độc tài tham nhũng, ông từ chức và bỏ nước ra đi sống đời lưu vong ở Hạ Uy Di. Là vị lãnh tụ một quốc gia đứng đầu sóng ngọn gió với Bắc Hàn và Trung Cộng, Lý Tổng thống dẫu độc tài tham nhũng bao nhiêu vẫn được người Mỹ bênh vực đến giờ phút chót như Tổng thống Thiệu của Việt Nam. Nghĩa là ông đã được một máy bay của CIA Mỹ đưa ông ra khỏi nước một ngày cuối tháng 4 năm 1960 (trước ông Thiệu đúng 15 năm) khi lực lượng biểu tình chống đối sắp tràn lên toà Bích Ốc (Blue House) để bắt ông xử tội độc tài và tham nhũng (Thứ trưởng Tài chính của ông, Kim Yong Kap, tiết lộ Lý Tổng Thống đã tham nhũng 20 triệu Mỹ kim). Điểm đặc biệt của Nam Hàn là sau kinh nghiệm đổ vỡ với Lý Thừa Vãn, những chính phủ quân nhân tiếp theo đã chẳng những không làm cho đồng minh Mỹ "tháo chạy" mà ngược lại, trong chuyến công du ngày 11/11/2010 mới đây, TT Obama đã tuyên bố tại thủ đô Seoul rằng sau gần 60 năm hợp tác: "nước Mỹ sẽ không bao giờ từ bỏ trách nhiệm bảo vệ an ninh cho Nam Hàn." ("the U.S. 'will never waver' in its commitment to South Korea's security")
 
4.NHẬT BẢN: Tháng 8 năm 1945, sau khi nước Nhật bại trận, tướng Douglas MacArthur dẫn quân đội Mỹ đặt bộ Tổng chỉ huy tại Đông Kinh. Một trong những điều đầu tiên ông tướng nầy làm là kêu gọi các nhà truyền giáo Tin lành và Công giáo hãy tích cực "lấp đầy khoảng trống tâm linh" của nước Nhật. Và ông đe doạ: "nếu không lấp đầy nước nầy bằng Thiên chúa giáo thì nó sẽ bị Cộng sản lấp đầy." Ông nhấn mạnh: "nước Nhật không thể trở thành dân chủ nếu không có đạo Thiên chúa." Ông Tướng nầy cũng nói thẳng rằng "nhiệm vụ của ông với tư cách là một Chiến sĩ của Chúa … là phục sinh lại tôn giáo cho nước Nhật." Hoàng tử Higashikuni, lãnh chức Thủ tướng đầu tiên của Nhật sau Đệ Nhị Thế chiến, tuyên bố với một phái đoàn truyền giáo Mỹ rằng: "Chúng tôi cần một chuẩn mực đạo đức mới như của Chúa Giê-Su. Đạo Phật hay Thần đạo (Shinto) không bao giờ có thể dạy chúng tôi tha thứ cho kẻ thù." Đọc câu tuyên bố nầy ta mới thấy được ông Thủ tướng Nhật đã hiểu rất rõ tiêu chuẩn "tôn giáo" của nước Mỹ để hạ mình đến mức chê cả đạo Phật và Thần đạo của quốc gia mình. Nhất là sau 54 ngày làm Thủ tướng, ông đã quyết định về hưu và lập một Thiền đường tên Higashikuni-kyo, và bị Bộ chỉ huy quân đội Mỹ đóng cửa. Nhưng nước Mỹ đã thất bại trong cố gắng thay đổi tôn giáo nước Nhật vì mối liên hệ quá chặt chẽ giữa văn hoá và đạo Phật của xứ Võ sĩ đạo nầy. Mối liên hệ đồng minh Nhật-Mỹ là một mối liên hệ cân bằng và thành công khi nước Mỹ không áp dụng ba tiêu chuẩn đã kể và yếu tố kinh tế có thể được coi như đã giúp nước Nhật giữ được vị thế độc lập của mình một cách vững chãi.
 
Sau hơn 65 năm truyền đạo với sự hổ trợ ngầm của chính quyền Mỹ, số tín đồ Thiên Chúa giáo (Công giáo và Tin Lành) cũng chỉ chiếm 2% tổng dân số Nhật Bản.
[Nguồn: View on Globalisation and Faith - Ipsos MORI, July 2011]
 
5.VIỆT NAM CỘNG HÒA: Qua bốn đồng minh trên của Mỹ, ta có thể thấy ông Diệm từ Vatican bay đến Nữu Ước năm 1951 là "đúng người, đúng chỗ và đúng lúc" để được Mỹ chọn làm đồng minh trong cuộc chiến tranh lạnh chống Cộng sản. Ông là một con chiên Công giáo thuần thành có bảo đảm của Hồng y Spellman. Trong trường hợp ông Diệm, chỉ yếu tố tôn giáo đó mà thôi cũng đã đủ mạnh để thuyết phục người Mỹ về yếu tố chính trị (chống Cộng) và yếu tố chủng tộc (văn hoá Gia tô sẽ kéo dân tộc Việt đến nằm ngoan ngoản dưới cái dù vĩ đại của văn hoá Tây phương như các ông Cố Tây và các ông quan Tây Thực dân đã ráng thực hiện trong gần 100 năm trước đó). Và đây là một chìa khóa của sự sai lầm trong chính sách đối ngoại của Mỹ ở Việt Nam, ngay sau ngày thực dân Pháp bước chân ra và họ bước chân vào, khi họ nhầm lẫn về vai trò của một người lãnh tụ Công giáo cuồng tín trong một nước mà đa số người dân theo, hoặc chịu ảnh hưởng sâu đậm của, Phật giáo.
 
Theo tác giả Seth Jacobs, chìa khóa nầy lại bị kẹt cứng thêm nữa vì yếu tố thời gian. Nước Mỹ của Eisenhower, McCarthy, Spellman đã bị thay thế bởi nước Mỹ của Kennedy, Martin Luther King Jr. Điều oái oăm là sự kiện ông Kennedy được đắc cử tổng thống, dù là người Công giáo trong một quốc gia đa số dân theo Tin Lành, đã đem đến hậu qủa là yếu tố Công giáo của TT Diệm trở nên không còn quan trọng lắm cho nước Mỹ nữa. Khi cử tri Mỹ chọn ông Kennedy vào chức Tổng thống năm 1960, họ đã bầu với tâm trạng "đạo nào cũng được".
 
Ngược lại, trong khi yếu tố "chống Cộng" gia tăng tầm quan trọng (khi Kennedy phải đối đầu với Kruschev qua vu khủng hoảng đầu đạn nguyên tử ở Cuba sát nách nước Mỹ), thì ông Diệm và Nhu lại (vừa đàn áp Phật giáo vừa) đi gặp "đồng chí" Phạm Hùng và chưng cành đào của ông Hồ Chí Minh trong dinh Độc Lập thì "đồng minh phải tháo chạy đồng minh" để yểm trợ cho "đảng Kaki" chống Cọng lật đổ Diệm-Nhu là một hậu quả không làm ai ngạc nhiên cả.
 
Thời gian cũng là một nhân tố làm cho yếu tố chủng tộc thay đổi. Từ chiến thắng đế quốc Anh bằng thuyết "bất bạo động" của Gandhi cho đến hình ảnh tù binh thực dân Pháp sắp hàng sau cuộc đại bại ở Điện Biên Phủ đã đem đến cho người dân Mỹ những suy tư khác (bạo động hay bất bạo động) về các dân tộc ở ngoài nước Mỹ. Để thuyết phục người Mỹ về sự hiện hữu của những nền văn hoá ngoài Tây phương, người Mỹ của thập niên 1960 chỉ cần so sánh hình ảnh tàn bạo, dã man của cảnh sát Mỹ dẫn chó đi cắn những người da đen đi biểu tình ở ngay thủ đô Hoa Thịnh Đốn và hình ảnh tranh đấu bất bạo động của Hoà thượng Thích Quảng Đức trên truyền hình Mỹ.
 
 
Trong phần chót của chương kết luận, tác giả Seth Jacobs viết:
 
"Giữa những chính quyền nối tiếp nhau sau khi ông Diệm bị lật đổ, chỉ có một nhân vật được Mỹ ủng hộ đã cầm quyền được lâu dài như ông Diệm: Nguyễn Văn Thiệu. Khoảng năm 1970, các ký giả Mỹ ở Sài Gòn thường nói giễu là chiến lược của Mỹ "Nổi hay chìm với Ngô Đình Diệm" đã biến thành ra "Đi đến cùng với Nguyễn Văn Thiệu". Tổng thống Thiệu tuy là một chính trị gia mềm mỏng và ít cuồng tín hơn ông Diệm nhưng vẫn là một người theo đạo Công giáo. Cái yếu tố (tôn giáo) đã làm cho Mỹ từng quyết định ủng hộ vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hoà vẫn vướng vất, dù kín đáo, cho đến nền Cộng hòa của vị tổng thống cuối cùng của miền Nam."
 
Nghĩa là vẫn một chế độ loại "Diệm không Diệm" thì người Mỹ mới ủng hộ theo "yếu tố tôn giáo" của họ. Mặc dù sau đó cả người Mỹ và cả ông Thiệu đều phải "tháo chạy" để mất luôn cả miền Nam. Thực trạng cay đắng nầy cần được đối chiếu với một hiện trạng mà Samuel Huntington đã tóm lược một cách thông suốt:
 
"Các quốc gia ngoài khối Tây phương có những trở ngại khác nhau khi đến với Tây phương. Ít trở ngại nhất là những nước Nam Mỹ và Đông Âu. Nhiều trở ngại là những nước theo đạo Gia-tô nguyên thủy thuộc Nga Sô (của thời kỳ Chiến tranh Lạnh). Nhiều trở ngại nhất là những xã hội Hồi, Khổng, Ấn và Phật giáo. Riêng Nhật Bản đã tự tạo cho mình một vị thế đặc biệt trong vai trò một thành viên liên hiệp không chính thức: Tuy trong hàng ngũ của Tây phương ở một vài khía cạnh nhưng Nhật Bản rõ ràng không phải là Tây phương trong nhiều địa hạt quan trọng." ("The obstacles to non-Western countries joining the West vary considerably. They are least for Latin American and East European countries. They are greater for the Orthodox countries of the former Soviet Union. They are still greater for Muslim, Confucian, Hindu, and Buddhist societies. Japan has established a unique position for itself as an associate member of the West: it is in the West in some respects but clearly not the West in important dimensions." – The Clash of Civilizations, Foreign Affairs, Summer 1993).
 
Đọc xong tác phẩm nầy của giáo sư Seth Jacobs, người Việt Nam sẽ nhận chân rõ rệt hơn não trạng chính trị của siêu cường Mỹ quốc thì câu hỏi đặt ra có phải là: Trong trật tự mới của thế giới, với những quốc gia Á châu như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore đang sánh vai một cách tự cường, tự lập với các quốc gia Tây phương, thì liệu Việt Nam sẽ chuyển mình vươn cánh thành một con rồng trong bầu trời độc lập của mình như Nhật Bản hay vẫn "lê gót nơi quê người" đi tìm một "đồng-minh-không-bao-giờ-tháo-chạy" theo những tiêu chuẩn hoang tưởng?

 
LÝ NGUYÊN DIỆU

Không thể tin gì và tin ai được nữa

Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 22.7.2013

                            Không thể tin gì và tin ai được nữa

Chưa bao giờ người Sài Gòn lại "bội thực" tin tức như thời đại này. Từ chuyện ăn đến chuyện chơi, tin tức giả thật lẫn lộn. Từ những tin khiến người dân lo sốt vó đến tin khiến người dân đàm tiếu lung tung, đôi khi luật pháp cứ như trò chơi, trò chơi lại thành luật pháp hay ít nhất nó cũng được biến thành "dự thảo" trình nơi này duyệt, nơi kia cho phép. Dự thảo chán rồi bỏ là chuyện hàng ngày ở huyện. Lại có cả dự thảo "bịa như thật" làm náo loạn dư luận. Ngay cả đến chuyện thống kê cũng "ông nói gà bà nói vịt", cơ quan này báo nhiều, cơ quan kia nói ít, chẳng ông nào đúng. Dân xin phép chẳng tin ông nào cho đỡ lôi thôi.

Rồi hết Hà Nội thu phí xe gắn máy đến chuyện cả nước giật mình vì tăng giá xăng kỷ lục. Xoay qua mấy bác có tí tiển gửi ngân hàng cũng xính vính vì tin lãi suất ngày càng giảm cùng với giá đô la vọt lên và giá vàng nhảy múa loạn xạ khiến người dân hoa cả mắt, đã hoang mang càng hoang mang vì chẳng biết gửi đồng tiền mồ hôi nước mắt vào nơi nào cho yên thân. Chung quy nhìn nơi nào cũng thấy sợ.

Quá nhiều chuyện "thiên hạ sự" của người Sài Gòn, nói cả ngày không hết. Người dân lúc này nhìn nơi nào, hàng nào cũng thấy toàn độc là độc. Từ mớ rau, con cá, con cua đồng đến đủ loại thịt heo gà vịt đều có thể tẩm chất độc.

Xem ra việc thực phẩm nhiễm độc đã là quá quen thuộc, khi mới đây lại thêm cá tầm Trung Quốc, rau ngót, mướp đắng bị phát hiện nhiễm độc. Giờ đây tìm hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sạch có lẽ còn khó hơn tìm hàng bẩn, độc, sau hàng loạt loại nhiễm độc đã công bố như nho, lê, táo, gừng, khoai tây, gà, vịt… giờ tới cá tầm nhập lậu cũng nhiễm chất cấm.

Từ nhà hàng cao cấp, các vị thích ăn heo sữa quay, vịt quay đến nhà hàng bình dân, nơi nào cũng có thể bị nhiễm độc.

Nhiều đám giỗ đám cưới và cả những người lao động ở một vài công ty đã có hàng chục thực khách lăn quay ra sau khi ăn uống thực phẩm được các nhà hàng mang tới.

Bây giờ đúng là không thể tin gì, tin ai được nữa, con dấu, giấy tờ cũng bị làm giả, Cục trưởng Cục Bảo Vệ Thực Vật thì biết rau, củ, quả nhiễm độc vẫn khuyên dân cứ ăn, còn người buôn bán thì vì lợi nhuận loại gì cũng sẵn sàng bán… Cứ như trước mặt là cả một tấn tuồng bắt tay nhau gài sẵn guồng máy "lậu" và "độc", chẳng anh nào thoát được chui đầu vào rọ. Người tiêu dùng nào cũng không thể là "thông thái" được nữa. Chỉ còn biết "nhắm mắt đưa chân", ăn bừa may ra thì không chết.

Nhưng chuyện thiết thân phải nói đến trước hết là chuyện gạo ngâm hóa chất, điều này càng khiến người dân lo lắng hơn. Nhất là những bác lao động và công tư chức loại cơm hàng cháo chợ hoảng hồn.

Gạo ngâm bột trắng, cơm nở nhiều gấp đôi

Như bạn đã thấy, từ mấy chục năm nay hàng tẩm chất này chất kia nhiều vô kể, nhưng chuyện gạo tẩm hóa chất là chuyện mới nhất, lạ nhất tại TP Sài Gòn và có thể còn nhiều nơi khác nữa mà người dân không thể tưởng tượng ra. Đây là một "sản phẩm mới nhất", ly kỳ nhất mà các bà nội trợ cũng chưa bao giờ nghĩ ra.

Muốn biết, chịu khó đến chợ Bà Chiểu thuộc vùng Tân Định là bạn có thể biết ngay. 
                                                       
                       Quầy bán bột trắng giúp gạo ngâm nở nhiều gấp 2-3 lần bình thường chỉ sau một lần hấp

Từ lâu chợ Bà Chiểu (quận Bình Thạnh, TP Sài Gòn) được biết đến là khu chợ lâu đời, buôn bán nhiều loại gia vị nổi tiếng và tiểu thương nào cũng có sẵn mấy chục lượt khách quen đến mua hàng ngày. Chợ bán nhiều loại gia vị từ quế, hồi, đến các loại bột làm bánh, bột nổi... và mỗi hàng lại có những loại tạp phẩm không giống ai để cạnh tranh lợi nhuận.

                                          
                                                      Sạp hàng có in Thiệp cho khách hàng gọi mua cho chóng

Theo tiết lộ của một phục vụ quán cơm trên đường Võ Văn Ngân (quận Thủ Đức, TP Sài Gòn ) thì chỉ cần 1 muỗng canh loại bột màu trắng này có thể "hóa phép" cho 10 kg gạo nở bung trắng đều, hạt to mẩy khi đã chín thành cơm tương đương như khi nấu 20 kg gạo thông thường mà không mất nhiều công. Loại gia vị này được chủ quán cơm cho biết mua tại chợ Bà Chiểu.

Vỏ bọc tiếng Anh nhưng bên trong toàn chữ Tàu

Chị P (tên chủ sạp P.H) cho biết: "Loại này chỉ bán cho người quen hoặc có khách hỏi mới đưa chứ không bán đại trà". Vì thế khi thấy khách tìm mua chị mới lôi ra 1 gói nhỏ màu đỏ bằng giấy và bảo đây là loại bột giúp hô biến gạo thành cơm nhiều và nhanh chóng.

                                           
                   Bao bột trắng có vỏ giấy từng gói lẻ ghi tiếng Anh, còn bên ngoài bọc là chữ Tàu chằng chịt

Ngoài vỏ gói bột ghi hầu hết bằng tiếng nước ngoài, không có nhãn mác hay hạn sử dụng nhưng chủ sạp vẫn khẳng định đây là hàng nhập. Xé vỏ giấy ra thì thứ bột trắng, nhỏ mịn như đường cát này có mùi thơm nhẹ. Tuy nhiên, gói giấy bọc vỏ bên ngoài lại in chữ Tàu chằng chịt.

Chỉ cần ngâm 15-20kg gạo chung với 1 muỗng canh nhỏ loại bột này rồi đem hấp khoảng 1 tiếng, gạo sẽ nở bung, cho lượng cơm nhiều gấp đôi so với bình thường. Thêm nữa loại bột này còn có tác dụng làm cơm chín rất nhanh, chị P nói: "Ngâm bột này vừa giúp gạo nở nhanh, nhiều và chín mau mà không mất công làm gì cả".

Chị T., 35 tuổi, thâm niên bán cơm vỉa hè 5 năm cho biết, dân trong nghề gọi bột này là bột nở có tác dụng làm thịt nhỏ to ra gấp 2, hạt gạo ngâm đem hấp lên to ra gấp 2-3 lần mà chẳng cần công sức gì cả. Vì vậy "một ngày ước tính bán 40kg gạo, nhưng kỳ thực chúng tôi chỉ bỏ tiền mua 15-20kg gạo thôi bởi cho bột vào ngâm gạo rồi hấp lên ra cơm nở, xốp và chín nhanh mà nhiều lắm. Nhưng cơm vì thế ăn không dẻo, bị sống sượng".

Nhiều khách ăn cơm rẻ hàng ngày cho biết, họ ít khi quan tâm đến việc cơm ra sao mà chỉ chăm chăm xem rau, thịt, cá có sạch và ôi thiu hay không. Vì thế việc cơm nở từ gạo ngâm bột trắng hóa chất gì đó với họ là ngoài sức tưởng tượng.

Có chất độc hay không chưa biết

Cục an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y Tế cũng liên tục đưa ra những khuyến cáo cho người dân nên chọn những loại thức ăn có nguồn gốc xuất xứ, hợp vệ sinh để bảo vệ sức khỏe.

Theo các bác sĩ ở trung tâm chống độc TP Sài Gòn, mùa hè là thời điểm số bệnh nhân bị ngộ độc thực phẩm phải nhập viện tăng cao. Vì vậy người dân nên hạn chế ăn các loại thức ăn không rõ nguồn gốc, thức ăn đường phố vì đó là nơi rất dễ bị nhiễm khuẩn, quy trình chế biến và bảo quản đều không bảo đảm. Đó chỉ là lới khuyến cáo "chung chung" cho có việc làm.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa cơ quan nào chịu nghiên cứu và công bố rõ ràng loại hóa chất tẩm vào gạo này có chất độc không? Dân đang chờ, nhưng… quan không vội!

Ông cục trưởng khuyên dân: Có chất độc vẫn ăn được

Chuyện ngược lại và cũng là thứ chuyện ngược đời là biết khoai tây Trung Quốc có độc nhưng người đứng đầu Cục Bảo Vệ Thực Vật thuộc Bộ Nông Nhiệp Phát Triển Nông Thôn (NNPTNT) VN lại nói "phải chấp nhận".

                                           
                                                                   Khoai tây Trung Quốc bán đầy chợ

Ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật - Bộ NN-PTNT, đã nhìn nhận như vậy quanh vụ 26 tấn khoai tây Trung Quốc có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt 16 lần ngưỡng cho phép vừa bị phát hiện tại TP Đà Lạt.

Khi được phóng viên hỏi: Thưa ông, nếu vừa qua TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng không phát hiện được 26 tấn khoai tây Trung Quốc có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt 16 lần ngưỡng cho phép thì người dân đã bị đầu độc?

                                          
                                    Ông Nguyễn Xuân Hồng: Khoai tây nhiễm độc của Trung Quốc vẫn an toàn!

Ông Nguyễn Xuân Hồng đã trả lời: Trong trường hợp như thế thì bất cứ nước nào trên thế giới đều phải chấp nhận. Bởi vì không phát hiện ra thì thôi, cũng như nhiều trường hợp, đi khám mãi mà bác sĩ không phát hiện ra bệnh nhưng thực chất là đang mắc bệnh.

Hiện nay, trên thế giới cũng chỉ đến mức độ như thế thôi, kể cả các nước phát triển nhất họ cũng đang áp dụng những biện pháp như vậy. Bất cứ phương pháp kiểm tra gì trên thế giới cũng có độ rủi ro chứ không bao giờ được tuyệt đối 100%.

Ông Hồng khẳng định "Mức dư lượng tối đa cho phép là mức mà trong thương mại người ta đưa ra, nó rất an toàn... không phải cứ vượt ngưỡng tối đa cho phép là mất an toàn". Ông giải thích thêm: "... Hằng ngày, 1 thanh niên 18 tuổi phải ăn 3.000 cây xà lách hoặc 1 cô gái phải ăn 354 quả táo. Khi các loại rau quả này có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép, phải liên tục ăn như thế thì nó mới ảnh hưởng đến sức khỏe".

Lại bảo vệ các thứ rau nhiễm độc nhưng… không độc

Sau khi khuyên người dân hãy cứ ăn khoai tâyTrung Quốc nhiễm độc gấp 16 lần mức cho phép, và một mực bảo vệ củ khoai tây, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT) Nguyễn Xuân Hồng lại tiếp tục lên tiếng bảo vệ là rau ngót, quả mướp đắng dù có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng vài lần nhưng vẫn không độc. Và nếu có độc thì chẳng qua do người dân không biết ăn đúng cách.

Nhưng tại cuộc họp ngày 8/7, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát, đã yêu cầu các đơn vị chức năng phải kiểm tra, làm rõ sai phạm trong vụ khoai tây Trung Quốc tại Lâm Đồng bị phát hiện tồn lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép. Đồng thời ông cũng yêu cầu đưa rau ngót và mướp đắng vào chương trình giám sát cả năm nay.

Trong lúc các lãnh đạo đang ngồi phòng lạnh dự hội nghị trên, Cục trưởng bảo vệ củ khoai tây, lá rau ngót, Bộ trưởng chỉ đạo kiểm tra, giám sát, làm rõ… thì ngoài phòng họp, khoai tây Trung Quốc đã tràn ngập Hà Nội, với giá chỉ 10.000 – 14.000 đồng/kg. Không riêng gì ở Đà Lạt, TP Sài Gòn đã kiểm tra và thực tế khoai tây TQ vẫn được báy bán khắp chợ.

Kính thưa Cục trưởng: Chất độc không thể ăn được!

Ngay sau khi lời phát biểu của ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật - Bộ NN-PTNT, khi cho rằng dù dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép 16 lần nhưng khoai tây Trung Quốc vẫn an toàn đã bị dư luận phản đối dữ dội. Đây không phải lần đầu ông cục trưởng phát biểu gây sốc.

Bạn đọc có nick culi phản đối: "Ông trả lời với dư luận gì mà kỳ vậy? Ông chấp nhận nhưng những người mẹ, những người cha không thể "chấp nhận" cho con cái mình ăn những thứ độc phẩm như vậy được. Không có một quốc gia nào chấp nhận cho dân tộc mình ăn đồ độc".

Bạn đọc có nick Râu rầu bất bình: "Không ngờ Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật lại có thể phát biểu những câu mà tôi đọc xong cảm thấy bị khinh thường như thể một người lớn đang dỗ dành em bé quấy khóc vì bố mẹ nó thất hứa không mua quà".

Đối với bất kỳ ai và bất kỳ loài vật nào, chất độc không thể ngửi, hít, chứ chưa nói là ăn vào. Do vậy, ở riêng 26 tấn khoai tây Trung Quốc bị phát hiện dư lượng thực vật cao gấp 1 lần cho phép mà ông Hồng nói vẫn an toàn thì không một ai chấp nhận được.

Bạn đọc Hữu Châu nói: "Với cách lập luận của ông Nguyễn Xuân Hồng thì người tiêu dùng nên tự cứu mình thôi".

Đây không phải lần đầu tiên ông Cục trưởng Nguyễn Xuân Hồng phát biểu gây sốc mà theo bạn đọc là quá vô cảm trước người dân. Còn nhớ ở vụ táo Trung Quốc nhiễm độc, trên Báo Người Lao Động số ra ngày 22-6-2012, ông Nguyễn Xuân Hồng cũng khẳng định: Chất độc trong táo Trung Quốc ở ngưỡng an toàn. Dẫn kết quả phân tích 40 mẫu táo Trung Quốc có chứa hóa chất độc hại thiram với hàm lượng 0,08 ppm, trong đó 15 mẫu có hóa chất aren ở mức từ 0,02 - 0,11 ppm, ông Hồng khẳng định chất độc thấp hơn ngưỡng cho phép và trong ngưỡng an toàn khi sử dụng.
 
Ngay sau tuyên bố này, hàng trăm bạn đọc đã gửi ý kiến phản đối kịch liệt. Bạn đọc cho rằng chất độc vẫn là chất độc và khi đã là chất độc thì không có ngưỡng, chỉ thấy nguy hại cho sức khỏe.

Ban mttl nói tuột ra: Thế thì không cần Cục Bảo vệ thực vật nữa. Dân Việt Nam chúng ta đang nuôi báo cô một số người vô tích sự...

Ban Lanh liên tưởng tới một số cơ quan có trách nhiệm khác: Không chỉ riêng ông cục này, mà các ông cục khác, bộ khác như hải quan, quản lý thị trường,.... những người hàng tháng được người dân trả tiền lương vì công việc của mình thì hãy có trách nhiệm với công việc hơn, còn nếu thấy không làm được thì mạnh dạn từ chức để người khác lên làm, chứ đứng phát biểu như ông cục này thì người dân chúng tôi không hài lòng.

Tạm ngưng chuyện ông Cục trưởng ở đây để bạn đọc khỏi bị ngộp.

Kinh khủng hơn nữa là ép dầu ăn từ lạc và... cao su

Người dân xã Điện Thọ (huyện Điện Bàn, Quảng Nam) đến mùa hái lạc xong, đem tới nhà ông Trương Căn (trú tại thôn Châu Lâu, xã Điện Thọ) ép lấy dầu. Nhưng khi đem hàng ngàn lít dầu lạc về để chế biến thức ăn thì phát hiện có mùi khét (giống mùi cao su bị cháy) cùng khói đen bốc lên.
 
Ông Căn sau đó thừa nhận, trong khi chạy máy để ép dầu lạc, ông đã dùng các miếng cao su (từ ruột lốp xe máy), có độ dài khoảng 10 cm, rộng 2 cm, để bỏ vào máy ép. Vì khi chạy máy ép dầu thì máy thường bị kẹt vì dầu lạc bám vào thân máy, bỏ cao su vào máy là để "bôi trơn", chống máy bị kẹt.
                                         Đến cơm cũng tẩm hóa chất, dầu ăn ép bằng lốp xe
                                                            Những hạt cao su nhỏ bằng hạt gạo trong dầu ăn

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, dầu ăn trộn lẫn cao su có thể gây bệnh ung thư, nhẹ thì gây rối loạn tiêu hóa. Không biết bao nhiêu gia đình ở VN đã được dùng thứ dầu ăn đặc biệt này?

Làm giả con dấu thú y để bán thịt thối

Lâu nay thịt thối thường được các lái buôn tuồn đi tiêu thụ bằng cách trộn lẫn với thịt tươi để bán, hoặc tuồn vào các nhà hàng, quán ăn, nhưng những cách làm đó xem ra đã quá quen thuộc, dễ bị phát hiện, mà lúc nào cũng phải run sợ bị lực lượng chức năng kiểm tra, khách hàng cũng dè chừng hơn.
 
Nhưng mới đây, các con buôn thịt thối đã "cao tay hơn", mà dùng từ chuyên môn gọi là "diễn biến phức tạp, với mức độ ngày càng tinh vi", đó là làm giả cả con dấu thú y để đóng lên thịt và giấy tờ kiểm dịch.
 
Ngày 13/7 vừa qua, công an thị xã Dĩ An (Bình Dương), khi kiểm tra một xe tải đông lạnh chở 10 thùng xốp lớn, bên trong chứa khoảng 100 con heo sữa đã rỉ nước vàng, bốc mùi hôi thối, đang trên đường từ Quảng Ngãi vào quận 5 (Sài Gòn) để tiêu thụ. Chủ lô hàng được xác định là Nguyễn Hồng Thanh (30 tuổi, ở Tiền Giang).
                                 
                                 Số heo sữa thối bị bắt quả tang trên đường vận chuyển giao cho nhà hàng TP HCM.

Kiểm tra giấy tờ liên quan đến lô hàng, công an phát hiện và thu giữ một con dấu kiểm dịch thú y (hình vuông), có mã số của Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ngãi. Chủ lô hàng khai đã tự khắc con dấu này tại nhà riêng, mỗi lần vận chuyển heo sữa từ Quảng Ngãi vào TP Sài Gòn sẽ sử dụng để đóng lên giấy tờ và đóng lên thịt heo…

Chỉ kể bằng ấy thủ đoạn và chất độc hại trong thực phẩm thôi, hầu như gia đình nào, già trẻ lớn bé đều cảm thấy mình đã bị lừa, bị đầu độc từ lâu mà không hể hay biết. Trong tình hình này thì mỗi gia đình đều phải tự cứu lấy nhau thôi. Tin cái gì, tin vào ai bây giờ?

Đến chuyện "bịa" như thật làm nhiều bà hết hồn

Gần đây, một nguồi tin rất "giật gân" được báo mạng lớn tại VN đưa lên rồi nhiều báo khác cứ thế đăng lại:

Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình TP Sài Gòn  mới đây đề nghị với UBND thành phố về việc bắt buộc khám sức khỏe trước khi làm thủ tục đăng ký kết với cả vợ lẫn chồng, mục đích là để tránh những bệnh có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc hôn nhân. Tiện thể, chi cục cũng đề nghị nên quy định về độ tuổi được phép mang thai của phụ nữ, cụ thể là không được quá 33 tuổi.

Trên tờ Báo Phụ Nữ VN ngày 11-07-2013 đã báo động "Không chửa gấp thì… không kịp?"

Mặc dù là một lời báo động vui nhưng thực sự nó cũng đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều bà hiếm muộn không chỉ ở TP Sài Gòn mà còn ở nhiều địa phương khác bởi TP Sài Gòn thực hiện được thì các nơi khác cũng làm được.

Từ đó phát sinh nhiều chuyện "bên lề" nửa đùa nửa thật, khá thú vị. Ngay sau khi đọc xong tin trên mạng, Hà Mi, người 2 tháng nữa tròn 33 tuổi nhưng chưa lấy chồng, treo status: "Cần tìm người cho giống gấp hôm nay, muộn hơn không kịp chửa trước 34 tuổi, bị phạt thì chết em". Hà Mi bảo, cô treo đùa vậy thôi, vì biết thừa một cái đề xuất vô lý như thế chẳng bao giờ được chấp nhận để áp dụng, thế nhưng cũng có người hết hồn. Con em họ tôi 32 tuổi, mới có một đứa con, lẽ ra cũng chửa đứa thứ hai rồi nhưng chồng nó lại đi học nước ngoài, gần 2 năm nữa mới về. Nó nói hay em bảo ảnh về ít ngày, đúc con rồi đi. Tôi mắng bảo mày khùng hả, tao còn chưa lo nữa là mày".

Anh Đình Tú, 37 tuổi, kỹ sư công nghệ thông tin làm việc cho một cơ quan thuộc ngành giáo dục, kể, sáng nay mấy cậu trong phòng anh cứ rao ầm lên: "Chị em ai cần đúc con ngay không, anh em sẵn sàng hỗ trợ miễn phí đây. Chị nào gái ế, ba mấy tuổi chưa có chồng thì nhờ luôn kéo lát nữa xếp hàng không kịp, chị nào chồng đi công tác đăng ký sớm nhé". Chị em cũng hưởng ứng rôm rả không kém. Một chị, có chồng đang làm việc cách đó 9 cây số, bạo mồm: "Gọi chồng sang chắc không kịp, thôi cậu nào giúp chị thì giúp luôn kẻo hết giờ".

Bà chị già nhất phòng kêu: "Cả tao nữa, tao cũng cần". Mấy ông em nhao nhao: "Bà già rồi còn đú, 35 tuổi, quá đát mất 2 năm rồi nhá". Chị cười hề hề: "Nhân lúc họ mới đề xuất chứ chưa được phê chuẩn, tao tranh thủ làm tí. Mai mốt cái quy định ấy được duyệt thì tao lỡ có chửa rồi, chả nhẽ bắt tao phá à?"

Đại khái có những chuyện "tếu" như vậy song không hẳn là không có những bà chị lớn tuổi mà chưa có chồng không lo lắng, "điệu này chắc hết lấy chồng được rồi!".

Phóng viên vẽ rắn thêm chân

Nhưng thật ra đây chỉ là thứ chuyện "bịa" hoặc vẽ rắn thêm chân của một phóng viên báo mạng phỏng vấn bà Tô Kim Hoa - Chi cục trưởng Chi cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình TP Sài Gòn, sau đó về tung tin này lên mạng.

Bà Tô Kim Hoa cho biết ngày 11-7 phóng viên C.T. của một tờ báo điện tử - tác giả bản tin đầu tiên đề cập đến việc đề nghị phụ nữ sau 33 tuổi không nên mang thai. Phóng viên C.T. đã thông tin không chính xác dẫn đến hiểu nhầm là Chi cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình TP Sài Gòn đề nghị quy định độ tuổi phụ nữ mang thai không quá 33. Thực tế, chi cục chỉ đề nghị quy định độ tuổi mang thai cho những trường hợp thụ tinh nhân tạo. Bà Hoa cũng xác nhận bản tin trên đã có sơ sót nhưng cũng đã nói rõ bối cảnh thông tin là trao đổi thông tin bên lề cuộc họp.

Tuy nhiên theo bà Hoa, nhiều trang thông tin và báo điện tử khi dẫn lại thông tin đã cố tình lờ đi bối cảnh trao đổi thông tin mà ghi thành "đó là đề xuất đã gửi đến UBND TP".

Chưa dừng lại ở đó, một số trang thông tin và báo điện tử còn thêm thắt, dùng các từ "cấm", "bắt buộc", "yêu cầu"… rồi tạo diễn đàn, lấy ý kiến các chuyên gia, thậm chí cả một lãnh đạo cơ quan pháp luật ở Quốc hội về việc cấm phụ nữ trên 33 tuổi mang thai.

Bà Hoa nói: "Chính những bài báo này mới làm trầm trọng sự việc, gây ra bất bình đối với người dân. Thật sự tôi buồn và thất vọng".

Như thế thì quả thật bây giờ chẳng còn biết tin nào thật tin nào giả ngay trên những tờ báo "chính thống" nữa, cũng như chuyện "huyền thoại tay không quật ngã trực thăng UH–1 của Mỹ" vậy./. 


Văn Quang

Vấn Đề Kính Trọng Một Niềm Tin


Trần Tiên Long

LTS: Trong khi mọi người có thể lên án thoải mái những điều mê tín dị đoan trong xã hội Á Đông, thì không ai dám nói gì đến những niềm tin nhảm nhí của các đạo Chúa vì các tín hữu bảo vệ tối đa các niềm tin hoang đường của họ. Tại sao thế? Lý do đơn giản là những điều mê tín dị đoan của dân Á Đông không phải là những điều mà các tôn giáo Á Đông đặt làm căn bản, mà thật sự chính là những triết lý thực tiễn, như nhân quả, luân hồi, chẳng hạn,... . Trái lại, bên đạo Chúa, những chuyện hoang đường lại chính là cốt lõi trong giáo lý: Chúa lên trời, Đức Mẹ đồng trinh, Chúa ba ngôi, Chúa toàn năng, Chúa cứu chuộc, Đức Bà hiện ra ở Lộ Đức, ... đều là những điều mà Thiên Chúa giáo La Mã buộc tín hữu phải tin, và sẽ cáu tiết với những ai phê phán những chuyện hoang đường đó. Thật ra, nếu không tin những chuyện tào lao như thế, thì tôn giáo này không thể giải thích được gì cả cho những chuyện xảy ra trong đời thường của con người.


 

Cứ mỗi khi có ai phê bình về một niềm tin thì những nhà biện giải cho Thiên Chúa Giáo (TCG) thường hay gay gắt kết án họ cái tội chống phá tôn giáo. Họ không thể chấp nhận bất cứ người nào có những lời lẽ bất kính đối với niềm tin của họ. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì TCG thường rất xem trọng niềm tin bằng cách thăng hoa đó là một nhân đức tin nên các tín hữu sẵn sàng làm tất cả những gì để sống chết với niềm tin tưởng đã được cấy vào đầu óc họ ngay khi mới lọt lòng mẹ.

Nhưng đối với những người không có cùng niềm tin TCG thì sao? Liệu họ có cần phải kính trọng những điều mà họ không tin tưởng như người TCG không? Tại sao phải bắt họ tôn trọng những điều mà họ biết chắc chắn là sai lầm, không nên tin? Có phải cứ là niềm tin thì tự động xứng đáng được mọi người kính trọng, kể cả những kẻ không tin?

Trước tiên, cần phải xác định thế nào là một niềm tin. Niềm tin là một ý tưởng hay nhận thức mơ hồ về một điều gì đó không có bằng chứng, hoặc trái nghịch với các sự kiện hiển nhiên. Trong Nhận Thức Luận, niềm tin có một sự liên hệ mật thiết với Triết Học, nhưng hai thứ hoàn toàn khác nhau ở chỗ Triết Học được xem như một nhận thức xác thực đã có sự biện minh; trong khi niềm tin thì chưa có sự biện minh để bảo đảm tính chân thật.

Niềm tin có thể là một cảm giác thành thật đưa chúng ta tới sự hiểu biết, nhưng nó cũng có thể là một kiến thức sai lầm. Chẳng hạn, người xưa có một thời rất thành thật tin tưởng rằng trái đất phẳng. Ngày nay, một niềm tin như vậy rõ ràng là một nhận thức sai lầm. Con người sinh ra thì đã có lý trí. Bởi vì không thể dùng lý trí để tin tưởng một điều nghịch lý nên Thần Học TCG dạy các tín hữu rằng đức tin là một tặng phẩm Thiên Chúa chỉ tặng cho những người được Chúa chọn lựa và yêu thương cách riêng

Từ căn bản của sự định nghĩa đó, chúng ta có thể đặt vấn đề rằng liệu một niềm tin chưa có sự biện minh có xứng đáng để chúng ta kính trọng như các nhà biện giải cho TCG đang đòi hỏi?

Có một sự kiện hiển nhiên chúng ta cần phải chấp nhận, rằng không phải niềm tin nào cũng giống nhau. Có những niềm tin rất xấu xa, gây nguy hại cho đồng loại và xã hội, trái nghịch với luân thường và đạo lý, đáng bị khinh bỉ. Chẳng hạn, niềm tin của những kẻ có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Họ tuyệt đối tin tưởng rằng chỉ có chủng tộc của họ là ưu việt, cần phải được bảo vệ hơn tất cả các chủng tộc khác. Hoặc niềm tin của những kẻ độc tài, phát xít. Họ tin tưởng mãnh liệt rằng chỉ chính quyền và chế độ họ đang nắm giữ mới có thể mang lại hạnh phúc cho toàn dân. Và còn có những niềm tin tôn giáo của các tay khủng bố ôm bom nổ. Họ khăng khăng tin như đinh đóng cột rằng đó là con đường ngắn nhất dẫn họ tới thiên đàng, nơi có các cô trinh nữ đang chờ đón họ để cùng vui hưởng hạnh phúc đời đời mà không nơi nào có. Những niềm tin mù quáng như vậy có xứng đáng để chúng ta kính trọng không? Nếu để họ tự do cổ vũ và chúng ta không chịu lên tiếng thì kết quả sẽ dẫn đến những điều tai hại gì cho xã hội và đồng loại? Cho dù không thể đối thoại với những người có niềm tin giáo điều cuồng tín, nhưng ít ra, chúng ta vẫn có thể trưng ra những sai lầm của họ trước công luận, để những người chưa tin như họ còn có cơ hội được nhìn thấy. Một khi người ta đã dụt bỏ lý trí qua một bên để chỉ đi theo niềm tin thì bạn lấy gì để lý luận với họ?

Đồng ý rằng, dù gì đi nữa, mọi người cũng vẫn có quyền tin tất cả những điều gì mình muốn, cho dù có sai trái và nguy hiểm tới mức nào. Đó là một nhân quyền được các hiến pháp của các quốc gia có tự do và dân chủ bảo vệ. Nhưng mình có quyền tin không có nghĩa là mình cũng có quyền bịt mắt bịt tai thiên hạ để làm thiên hạ tin theo mình. Việc tự do phê phán một niềm tin cũng là một nhân quyền mà chúng ta cần phải tôn trọng và bảo vệ. Chúng ta đòi hỏi người ta tôn trọng nhân quyền của chúng ta thì chúng ta cũng nên tôn trọng nhân quyền của thiên hạ. Những xảo thuật như nhốt vào cũi chó, ém bài, xoá hoặc sửa đổi bài, v/v… là những hành động đang vi phạm trực tiếp quyền hiến định này. Chúng chỉ đưa đến kết quả chứng minh rằng chúng ta đang sợ ánh sáng của sự thật vì chúng ta đang ôm ấp những niềm tin sai lầm.

Thực ra, nếu chúng ta theo dõi những lời phát biểu của những nhà biện giải cho TCG trên các diễn đàn, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra ngay rằng họ không những chỉ đơn giản đòi hỏi mọi người phải kính trọng niềm tin của họ, mà còn ngụ ý đòi hỏi thiên hạ phải chiều theo niềm tin của họ. Họ muốn niềm tin của họ được thể hiện ở mọi nơi, kể cả những nơi chốn thuộc công cộng, nhưng họ lại không muốn niềm tin của những người khác được phổ biến. Họ không cho chúng ta biết kính trọng thì phải kính như thế nào. Nhưng tại sao người ta lại đòi hỏi thiên hạ phải kính trọng, trong khi sự kính trọng không phải là điều tự động chúng ta có được theo cách miễn phí? Đó là điều chúng ta phải ra công sức mới có được. Một ông thày không thể đòi hỏi học trò phải kính trọng mình nếu ông ta không có tư cách của một nhà giáo. Sự kính trọng của học trò còn tuỳ thuộc vào tư cách, kiến thức, và hành động của ông thày trong xã hội. Người ta có thể đòi hỏi mọi người tối thiểu phải kính trọng nhau như những con người có nhân vị, cho dù đối với một người vô lại, cùng đinh, chẳng ra gì trong xã hội; nhưng niềm tin không phải là con người để có được sự kính trọng tối thiểu này

Niềm tin không phải là chủ thể đang tin; do đó, phỉ báng niềm tin không phải là phỉ báng người đang tin. Nếu phân biệt được niềm tin với người tin thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận sự phê phán đến từ mọi phía qua những lăng kiếng khác nhau. Cũng vậy, khi tôi chê trách và phê phán một chính quyền, một chế độ đang được áp dụng ở một quốc gia, điều đó không có nghĩa là tôi đang phỉ báng toàn thể dân tộc đang sống ở trong quốc gia đó. Hoặc tôi có thể bàn về chủ nghĩa xã hội, điều đó không có nghĩa là tôi đang khinh thường tất cả những người đang sống trong chủ nghĩa xã hội đó.

Đúng hơn, chúng ta chỉ có thể đòi hỏi thiên hạ phải bao dung với niềm tin khác nhau trong xã hội, hơn là bắt thiên hạ phải kính trọng một niềm tin riêng biệt của chúng ta. Người ta có thể rộng lượng, bao dung với những quan điểm dị biệt về cùng một vấn đề, mặc dù người ta đang xem thường, khinh bỉ những ý kiến ngớ ngẩn, ngu ngơ. Người ta vẫn có thể có những ý tưởng rất tiêu cực về cùng một điều mà người ta đang bao dung; nhưng, ngược lại, người ta không thể khinh ghét cùng một điều mà người ta đang kính trọng. Như vậy, sự kính trọng và lòng bao dung là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt. Khi người TCG đòi hỏi thiên hạ phải kính trọng niềm tin của họ là lúc họ đã vượt quá lằn ranh của lòng bao dung.

Ngoài ra, còn có một thắc mắc khác cũng cần phải được nêu ra: Tại sao trong khi các nhà biện giải cho TCG có thể rao bán món hàng niềm tin của họ ở các chợ trời, trên đại lộ Pigalle thuộc Paris, Bourbon Street thuộc New Orleans, trong đài phát thanh, tivi, diễn đàn công cộng, báo chí, v/v… thì thiên hạ lại không thể bàn ra, góp vào về những món hàng họ đang rao bán? Có phải tôn giáo là lý do duy nhất cần có và đủ để bắt buộc tất cả mọi người phải im lặng, lắng nghe? Và còn có một sự kiện khác mà chúng ta không thể chối cãi, rằng đã và đang có vô số những kẻ buôn thần bán thánh, chuyên làm nghề reo rắc những điều mê tín dị đoan để đắc lợi cho cá nhân và phe nhóm. Những kẻ đạo đức giả này thì đầy đường, ở đâu và ở thời đại nào cũng có, rất dễ dàng bắt gặp. Họ đang phục vụ và bảo vệ cho tôn giáo của họ, chứ chẳng phải cho các chân lý mà họ đang rao truyền.

Dù gì đi nữa, chúng ta cũng nên trân trọng có một lời cám ơn đối với những người đang làm công việc không công, phê phán những điều mê tín dị đoan núp sau các chiêu bài niềm tin tôn giáo để bảo vệ quyền lợi cho chúng ta, những người thuộc giới tiêu thụ. Nếu không có họ thì tôn giáo đầu tiên của nhân loại đã là tôn giáo duy nhất và cuối cùng. Và như vậy thì loài người đã không có sự tiến bộ, nhân loại vẫn đang sống trong sự ngu dốt của tổ tiên ở thời man khai. Và chính chúng ta cùng con cháu chúng ta sẽ là những kẻ chịu nhiều thiệt thòi hơn cả./.


Trần Tiên Long

09 July 2013

Hiệu ứng nói phét!


 Văn Quang - Viết từ Sài Gòn, ngày 08.7.2013  
 
                                            Hiệu ứng nói phét!

Thưa bạn đọc, đây không phải tiêu đề tôi muốn đặt, mà tôi đã đặt theo lời bình của một độc giả ở VN sau một bài báo mà bạn sẽ đọc sau đây. Thực ra tiêu đề có vẻ không được lịch sự, nhưng trong trường hợp này thì khá đúng. Tôi tin rằng bạn đọc xong bài này cũng sẽ có ý nghĩ đó.

Vào đầu tuần vừa qua, tôi rất bất ngờ khi nhận được e mail của một anh bạn ở Úc gửi cho một bài về "Huyền thoại tay không "quật ngã" trực thăng UH-1 của Mỹ." Đọc xong toàn bài và nhất là đọc những lời bình luận ngay sau bài báo ấy, tôi cứ tưởng của một anh thuộc loại "lề trái phản động" nào "tán dóc" bịa ra bài báo này chứ làm sao có chuyện "ly kỳ rùng rợn" đến như thế được. Tôi bèn phải hỏi lại và được đường link đến bài báo. Quả nhiên khi "nhảy vào" đường link, được đưa ngay đến trang báo đó. Thời đại internet này sướng thế đấy. Nhất là một trang báo ở VN, tôi mở ngon ơ. Các bạn cứ bình tĩnh đọc hết bài này rồi cũng như tôi, nếu không tin là bài đã được đăng và những lời bình sau đó là có thật, tôi sẽ chuyển ngay tới bạn đường vào trang báo này.

Xin cứ bình tĩnh

Sở dĩ tôi phải đề nghị bạn bình tĩnh vì trong bài đó có nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều từ ngữ có thể gây "sốc nặng" đối với nhiều bạn. Tôi không sửa chữa dù chỉ một chữ mà để nguyên văn bài báo của tác giả để giữ tính cách "thật nhất" của nó. Và cũng là dịp để bạn đọc bớt chút thì giờ hiểu rõ được lối viết, phong cách viết, lối "hành xử" của một số người được gọi là "nhà báo" bây giờ ở VN và những ông "anh hùng" giàu tưởng tượng hơn mọi chuyện thần thoại. Nó hiện nguyên hình một lối tuyên truyền ấu trĩ, ấu trĩ đến nỗi làm người "bị tuyên truyền" phải nực cười, thương hại hơn là ghét bỏ, đó chính là một sự phản tuyên truyền công hiệu nhất.
 
Có lẽ tôi không cần phải làm công việc phân tích bài báo này bởi tự nó đã hiện lên nguyên vẹn giá trị rồi. Mời bạn đọc bài báo và đọc nguyên văn những lời bình rất thẳng thắn khách quan.
  
Huyền thoại tay không "quật ngã" máy bay trực thăng UH-1 của Mỹ
                                                  (Báo Phụ Nữ Today, tác giả: nhà báo Hạ Nguyên)
                                              
                                                                                   Máy bay trực thăng UH-1 của Mỹ

(Người nổi tiếng) - Ông rưng rưng nước mắt, "Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được."
 
Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, từ biệt quê hương Tân Dương (Thủy Nguyên, TP.Hải Phòng), ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng - Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay).
 
Hơn 15 năm cầm súng chinh chiến dọc một dải chiến trường miền trung, ông đã lập nên những kỳ tích huyền thoại khi "một mình hạ hơn 8 chiếc máy bay UH - 1 và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy."
 
Đất nước giải phóng, dù bận rộn với cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn, nhưng người cựu binh năm nào vẫn còn đau đáu một nỗi lòng với những người đồng đội đang nằm lại nơi rừng xanh, núi cao chưa tìm thấy hài cốt.
 
Từ năm 1990 đến nay, ông đã thực hiện hàng trăm chuyến băng rừng, vượt suối về lại chiến trường xưa để tìm kiếm, cất bốc mộ đồng đội.
 
Người cựu binh nặng lòng với quá vãng ấy là ông Bùi Minh Kiểm (SN 1942, trú tại đường số 5, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng), một "địa chỉ đỏ" trong hành trình đi tìm mộ liệt sĩ của thân nhân những người lính ngã xuống trên chiến trường Quảng – Đà.
 
Sau nhiều lần tìm đến nhà, cuối cùng, chúng tôi cũng gặp được ông vừa trở về sau chuyến đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực rừng núi Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam).
 
Căn nhà nhỏ nằm khuất sau con hẻm bỗng trở nên vui nhộn hơn thường ngày bởi tiếng cười nói của những người khách, cán bộ phường đến thăm.
 
Nhìn người đàn ông tuổi ngoài lục tuần, thân hình nhỏ nhắn nhưng rắn chắc, khỏe mạnh, ít ai biết được rằng ông đã từng dùng đôi bàn tay ấy để ghì chặt một chiếc máy bay UH - 1 của Mỹ xuống mặt đất.
 
Dẫn chúng tôi lên căn phòng chất đầy những kỷ vật một thời lửa đạn như: bi đông nước, ba lô con cóc, dép cao su..., ông kể, "Gia đình tôi có 4 anh em trai thì hết 3 người xung vào quân đội, 4 chị em gái cũng lần lượt vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế cho chiến trường lớn miền Nam.
 
Riêng tôi con út nên được ở nhà, miễn nghĩa vụ quân sự. Nhưng đất nước đang chiến tranh, giặc giã, bạn bè cùng trang lứa đã xếp bút nghiên lên đường, mình ở nhà sao được?"
 
Mặc cho gia đình can ngăn, ông vẫn viết đơn nhập ngũ và xin vào chiến đấu ở mặt trận Quảng – Đà, một trong những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ.
 
Sau gần nửa năm huấn luyện trong gian khổ, ông được biên chế vào đơn vị 91 Đặc công (thuộc Quân khu V), thực hiện các nhiệm vụ đánh "thọc" sâu bên trong lòng địch, bảo vệ các cứ điểm quan trọng.
 
Với một người lính trẻ vừa kết thúc mấy tháng quân trường, đó bước thử thách khắc nghiệt, khó khăn. Trải qua những trận đánh ác liệt, có những lúc đối diện với cái chết trong gang tấc đã hun đúc tinh thần người lính trẻ.
 
Sự ác liệt của chiến tranh, sự hy sinh mất mát của nhiều đồng đội, cũng không thể khiến ông khuất phục.
 
Trong đời binh nghiệp của mình, ông nhớ nhất là trận đánh "không ngang sức" với kẻ thù, buộc ông phải gieo mình xuống sông để tránh bị rơi vào tay kẻ thù. Nhắc lại chuyện xưa, trong đôi mắt của người lính già ngấn lệ, hồi tưởng về một thời máu lửa đã qua.

                                     Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.
                                     Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.
 
Ông kể, đó là vào khoảng 9 giờ một ngày tháng 4/1968, khi đơn vị của ông gồm 4 người (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140 - Bộ Quốc phòng) đang đào hầm trên bãi cát gần bờ sông Vu Gia (thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam - PV) để bảo vệ một điểm trung chuyển đạn dược phục vụ mặt trận Quảng - Đà.
 
Trong lúc 4 người đang đào công sự thì địch sử dụng máy bay do thám phát hiện. Chỉ khoảng một giờ sau, hàng chục chiếc trực thăng của địch bất ngờ đổ bộ xuống vị trí cách đơn vị ông chưa đến 20 mét.
 
Trước khi đưa lính tới càn, bọn chúng đã cho pháo tập kích, dập tả tơi quanh khu vực bán kinh 1km trở lại. Trận pháo kích dữ dội đã làm 2 chiến sĩ của đơn vị trúng đạn, hy sinh.
 
Biết địch chắc chắn sẽ cho quân càn tới để tiêu dịch cứ điểm quan trọng này nên ông và đồng đội Nguyễn Phú Thao (ngụ TP Hải Phòng) quyết một phen sống mãi với quân thù.
 
Ngoài hai khẩu AK, ba quả lựu đạn và một số ít cơ số đạn còn lại, hai người phải chống chọi với một tiểu đoàn trực thăng biệt động 37 của ngụy cùng hơn 150 lính biệt kích, có sự yểm trợ của pháo binh địch.
"Lúc này, hai anh em chúng tôi chỉ liếc mắt nhìn nhau rồi lặng lẽ tiến vào công sự, đạn đã lên nòng và lựu đạn cũng sẵn sàng rút chốt. Không ai nói một lời, nín thở chờ tụi biệt kích tiến vào tầm ngắn. Tụi nó sục sạo khắp nơi và khi đến gần phía bờ sông thì chúng tôi nhả đạn" - ông Kiểm nhớ lại.
 
Gặp chốt chống cự, địch nhanh chóng tản ra tạo thành thế gọng kìm để bao vây hai người vào giữa. Nhưng những loạt đạn AK tạo ra vành đai lửa khiến địch không thể tiến lên.
 
Sau ba giờ cầm chân địch, ông bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiên trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn róc két, pháo kích lần hai.
 
Quân Mỹ - ngụy tưởng rằng, chúng đang đụng độ với một đơn vị bộ đội của ta nên tiếp tục cho quân đổ bộ và tăng cường hỏa lực trấn áp.
"Quân địch sợ bị rơi vào điểm phục kích nên không dám tiến lên mà chỉ dùng hỏa lực tấn công từ xa. Nhưng nguy hiểm nhất là các trực thăng liên tục quần thảo trên đầu, súng máy và AK không thể xuyên thủng lớp thép phía dưới bụng máy bay" ông Kiếm kể.
 
Giữa lúc "dầu sôi, lửa bỏng" ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo. Khi chiếc UH - 1 rà tới chuẩn bị hạ thấp để bắn róc két thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống.
 
Đôi bàn tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH - 1 xuống gần sát mặt đất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị anh Thao từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái. Chiếc máy bay mất thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác.
 
Tiếng nổ của chiếc UH - 1 đầu tiên đã khiến phía địch hoảng loạn, gọi cầu viện. Đến trưa cùng ngày, ông Kiểm và đồng đội vẫn giữ vững cứ điểm, không để địch tiến về phía bờ sông.
 
Đợt pháo kích thứ ba của địch vừa dứt thì ba chiếc trực thăng UH - 1 hạ cánh xuống khu vực chiếc trực thăng bị rơi để tìm kiếm xác. Lợi dụng cơ hội này, hai người trườn tới vị trí thuận lợi để bắn hạ ba con "chim sắt."
 
Ông Kiểm hồi ức như mới vừa xảy ra đây "Trong khi anh Thao lên đạn súng máy thì tôi chạy thẳng tới đuôi chiếc máy bay rút chốt lựu đạn quăng vào buồng lái.
 
Chiếc thứ nhất nổ tan tành khiến hai chiếc kia hoảng sợ cất cánh bỏ chạy, nhưng đã bị lưới đạn của anh Thao nhả xuống, hai chiếc còn lại cũng bị hạ nốt."
 
Đến cuối giờ chiều, hai khẩu súng đã gần hết đạn, không thể tiếp tục chống cự thêm. "Lúc đó hai tai tôi đã lảng đi vì tiếng nổ, đầu nhức, mắt mờ. Anh Thao cũng bị thương chảy máu khá nhiều. Hai chúng tôi hi vọng sẽ cầm cự đến được chiều tối, bọn địch sẽ phải rút lui, hoặc phía quân ta sẽ bổ sung lực lượng cứu viện" - ông Kiểm kể.
 
Khi phát hiện hỏa lực phía ta bị suy giảm, địch bắt đầu cho quân tiến lên, quyết tâm bắt sống ổ kháng cự. Hai người vừa chiến đấu vừa tìm cách bò ra mép sông để tìm cơ hội thoát khỏi sự truy kích và đánh lạc hướng quân địch.
 
Nhưng cả hai chưa bò ra đến nơi thì ông Thao trúng mảnh pháo xuyên qua đầu, hy sinh. Lúc đó, ông Kiểm nghĩ mình cũng sẽ chết vì chỉ còn lại ba viên đạn trong băng. Ông cố lôi xác đồng đội ra sông để cả hai cùng thả trôi theo dòng nước, không phải chết trong tay quân Mỹ - ngụy.
Lê chút sức tàn ra tới sông, ông Kiểm thả mình xuống dòng nước bất tỉnh. Trôi theo dòng nước gần 6 km, sóng đánh ông tấp vào bờ. Tưởng chừng như đã nắm chắc cái chết, nhưng ông Kiểm được người dân trong vùng vớt lên, cứu sống.
 
                                    
                                  Người lính già Bùi Minh Kiểm (đứng bế cháu, thứ 3 từ phải sang trái)
                                  cùng thân nhân những người đi tìm hài cốt liệt sĩ.
 
Kể đến đây, ông Kiểm quay sang nhìn tấm di ảnh của ông Thao treo trang trọng trong nhà và ông xúc động:
"Đến bây giờ, tôi cũng không nghĩ là mình may mắn còn sống. Cả đơn vị tôi hôm ấy đã hy sinh gần hết, chỉ còn lại tôi. Bà con đã nuôi dấu tôi hơn 2 tuần cho hồi phục rồi tìm đường trở lại đơn vị chiến đấu."
 
Sau trận ấy, ông được đơn vị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đó xem như là phần thưởng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người lính trẻ năm nào. Trở về đơn vị, ông và đồng đội lại bước vào những trận chiến gian khổ và khốc liệt hơn.
 
Năm 1970, ông chuyển về công tác, chiến đấu và giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, Đoàn pháo binh 575. Cuối năm 1971, ông được đơn vị giao nhiệm vụ trinh sát, đặt đài quan sát trên đỉnh Bà Nà - Núi Chúa để theo dõi tình hình hoạt động của địch ở sân bay Đà Nẵng.
 
Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào tháng 8/1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy.
 
Trước đó, công tác chuẩn bị cho trận đánh "lịch sử" đã được lãnh đạo thống nhất phương án. Táo bạo và bất ngờ, các trận địa pháo của Đoàn 575 đặt tại trận địa Hòa Bình (Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) và Điện Sơn (Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) phát hỏa lúc 5 giờ 35 ngày 2/8, ngay trước mũi hành quân tìm diệt của địch (cách trận địa Hòa Bình chỉ vài trăm mét).
 
80 viên hỏa tiễn "tìm" đúng mục tiêu, phá hủy 57 máy bay, diệt 147 tên Mỹ hầu hết là sĩ quan, giặc lái, kho xăng trong sân bay bốc cháy dữ dội 5 giờ liền, nhiều phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy. Trận đánh để đời của Đoàn 575 đã làm giặc Mỹ ngớ ra không kịp đối phó...
 
Lật giở tấm bản ghi thành tích chiến đấu của đơn vị năm nào, ông cười tự hào, "Gần 10 năm (1966-1975), Đoàn pháo binh 575 đã đánh hơn 500 trận, tiêu diệt 6.000 tên địch với hàng ngàn sĩ quan, phá hủy 780 máy bay, 1.000 xe quân sự, 200 khẩu pháo các loại, thiêu cháy 50 triệu lít xăng dầu và rất nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ.
 
Đơn vị được tặng 10 Huân chương Quân công, hàng trăm Huân chương Chiến công, được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 31/3/1973...."
 
Trong thời gian 1964-1975, với những thành tích xuất sắc đã đạt được, ông Kiểm được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công, 4 danh hiệu Dũng sĩ (diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, diệt xe cơ giới), 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 1 Huân chương Kháng chiến và 31 bằng khen, giấy khen các loại...
 
Cuộc trò chuyện bỗng trầm xuống khi chúng tôi nhắc đến những chiến thắng, ông rưng rưng nước mắt:
"Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được."
HẠ NGUYÊN
 
LỜI BÌNH: Một số lời bình tiêu biểu ngay dưới bài báo của các độc giả:
(nguyenvuongdang; Nguyễn Văn Nguyên; tructhang; Bandoc; Huyết ...)
+ Câu chuyện thần thoại vô chứng cứ với những chi tiết lố bịch đến mức con nít tiểu học nước ngoài cũng phải thốt lên là "bốc phét thì cũng vừa vừa thôi, còn để dành chỗ cho chữ ký!" thế mà báo nhà nước vẫn đăng mới nản!

+ UH-1F sử dụng động cơ mới General Electric T-58-GE-3 với công suất 1,325 hp. UH-1H sử dụng đông cơ Lycoming T53-L13 với công suất 1400hp. Điều đó có nghĩa là động cơ của nó mạnh từ 1,325 đến 1,400 mã lực. Muốn kéo nó đứng lại phải cần một đối lực bằng ít nhất là 1,300 con ngựa. Bác Kiểm có đi học không nhỉ?

+ Hay chỉ là trực thăng bằng giấy cúng cô hồn Rằm tháng Bảy mà bác Kiểm nhà ta thần hồn nát thần tính nhìn lộn vậy ta... hihi...

+ Thật hãi quá các cụ ơi. Nghe nói hồi xưa có vụ chiến sĩ ta cầm K54 bắn rơi B52 nữa đấy!

+ Cụ Bùi Minh Kiểm đúng là Hercule của Việt Nam! Vãi thật siêu nhân à!

+ Superman có họ hàng người Việt mà bây giờ mình mới biết!

+ Xin các bác nhà báo có bơm thì cũng bơm vừa phải thôi chứ; bơm quá đối tượng bay như bong bóng mất.

+Nhảm thật! Sau trận pháo kích dữ dội mà đơn vị ông Kiểm vẫn còn sống và bám gần đó và vẫn còn bất ngờ khi quân Mỹ đổ bộ xuống ngay đó thì ổng là Rambo và chẳng biết gì về kỹ thuật quân sự cả.

+ Theo câu chuyện kể thì lúc đang đứng dưới hào chiến đấu, ông này đã nhảy lên nắm càng máy bay lôi nó xuống đất. Xin hỏi máy bay này nếu nó biết bên dưới là địch, thì khoảng cách nó giữ với mặt đất không lẽ chỉ 1, 2 mét? Hơn nữa ông này còn đứng dưới hào, là ít ra phải ngang hông, coi như ông muốn với tới máy bay phải nhảy như người nhện. Chưa kể ổng nặng bao nhiêu? Cho hết quân trang quân dụng ổng nặng cỡ 100kg thì nhằm nhò gì với cái trực thăng này?

+Ghét nhất là đọc mấy đoạn kể lại của bố Kiểm. Toàn suy diễn và bịa chuyện, chẳng thể tin nổi.
+ Chắc tay phóng viên xem phim "siêu nhân" hơi bị nhiều!
+ Tung chảo chém gió thì cũng để đức cho con cháu với chứ.
+ Trực thăng Mỹ nó bắn rocket mà hạ thấp đến mức cho bác bám vào à? Mức đó thì nó bắn xong nó nổ luôn chắc.
+ Học ngữ văn của Việt Nam là biết khả năng chém gió khủng đến cỡ nào!Nói khoác một mình dùng súng AK47 bắn hạ cả đống máy bay chưa đã sao lại còn bảo kéo cả UH-1 xuống bằng tay không. Ngày đó thân xác bác Kiểm đặc công nhà mình nặng giỏi lắm khoảng 50kg. Sao bác tài thế! Tại hạ khâm phục! Khâm phục!
+ Vẫn biết tiền bối có công rất lớn nhưng cái gì cũng phải có giới hạn. Tiền bối viết bí kíp võ công như thế thì hậu bối chỉ có tẩu hỏa nhập ma...
+ Thế hóa ra cái trực thăng nó bay tới mức đủ thấp để ông này chạy lại bám càng, mà cả thằng phi công lẫn thằng xạ thủ ở trong không làm được gì hả? Nhẽ bọn Mỹ nó ngu quá thiểu năng vậy hả? Hay ông này còn có cả khả năng chạy siêu nhanh như của Flash?
+ Vãi đái với báo chí tuyên truyền. Tuyên truyền trong thời chiến còn hiểu được, còn thời này mà cứ thế này bảo sao bọn thanh niên càng ngày càng ngu, không suốt ngày hổ báo cáo chồn giết người chặt đầu hiếp dâm xác chết...
+ Từ bé đến giờ tôi đâu có thấy máy bay trực thăng UH-1H là cái giống gì đâu bác. Cho nên nghe bác bảo bác là "anh hùng tay không quật ngã trực thăng UH-1 của Mỹ" thì tôi bèn chỉ còn biết lắc đầu le lưỡi phục bác sát đất thôi.
+ Có phải khi xưa bác cư ngụ gần kho đạn Long Bình chăng mà nổ đinh tai vậy?
+ Bác nổ còn hơn bom tấn. Bác coi trời bằng vung, coi trí tuệ của bàn dân thiên hạ như dân Bắc Hàn khóc lãnh tụ mới dám tồn trữ của quý.
+ Kỷ lục nâng vật nặng thế giới là 458 kg. Vậy vị anh hùng Bùi Minh Kiểm của chúng ta mạnh hơn đương kim vô địch thế giới bốn lần. Quá khủng khiếp.
+ Thì đã bảo "Với sức người, sỏi đá cũng thành cơm" mà lị. Với cách nói ngông này, ông kéo trực thăng một phát là xuống ngay.
+ Cái loa tuyên truyền phát ra đều có cơ sở, ngay cả người có thể đi trên ngọn lúa. Một anh nói phét có thể chưa được ai tin nhưng ngàn anh nói phét là nhìn lên trời thấy râu Lê Nin thì chục anh còn lại cũng hô lên "Ừ nhỉ... đúng là râu cụ Lê Nin đã hiện ở trên trời!" Quên mất, không biết cái đó gọi là gì. Thôi tạm gọi nó là... hiệu ứng nói phét!
+ Ngày xưa từng có những phi công quân đội nhân dân ta "rình trong mây, đợi máy bay của địch bay ngang qua rồi nhảy từ máy bay của ta sang máy bay của chúng, nạy cửa bắt sống phi công địch"à theo lời của các cụ Tuyên Huấn thì đây cũng là câu chuyện và nhân vật có thật, nhưng tạm thời chưa xác định rõ danh tính, tuổi tác, cũng như là tên của hành tinh nơi sự việc ly kỳ ấy xảy ra. Hahaha...

Bạn đã đọc toàn văn bài báo "kinh khủng" này, nếu chưa tin hẳn, bạn có thể link theo đường này:
 
[Chuyện trang Phụ nữ & Đời sống (phunutoday.vn) của báo điện tử nguoiduatin.vn]

Hãy làm sạch thông tin trong nước
 
Theo trang web Cổng Thông tin điện tử của chính phủ VN, trong giai đoạn 2013-2020 chính phủ VN rất chú trọng tới công tác thông tin đối ngoại. Tuy nhiên, theo cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại, Bộ Thông tin và Truyền thông, Lê Văn Nghiêm cho biết "còn một số hạn chế như nội dung thông tin chưa phong phú, thiếu chiều sâu; thông tin đối nội và đối ngoại chưa gắn kết với nhau; việc thông tin về thế giới vào Việt Nam chưa kịp thời và đầy đủ, thiếu chọn lọc và có lúc chưa đúng định hướng. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do nhận thức của một số cán bộ, chưa được sâu sắc..."
 
                                     
                               Người VN ngày nay có thể vào rất nhiều trang web để biết rõ tình hình hơn.

 
                                    
                                                                  Các tờ báo trên sạp báo tại VN
                                              
                     Một tranh biếm họa về anh ký giả bị sếp la vì gây bất lợi cho chính quyền huyện.
 
Tôi thấy cần phải bổ sung một lý do quan trọng hơn hết là phải làm sạch thông tin trong nước trước đã. Các nguồn tin phải trung thực chính xác mới có thể gây được ảnh hưởng tới thông tin đối ngoại. Phải tháo bỏ những rào cản, những hạn chế của những quyền lực bóp méo thông tin, loại bỏ những "ký giả" thiếu khả năng chỉ biết tô son vẽ hồng.... Khi "chân mình còn lấm bề bề" thì nói chẳng ai tin. Đó mới chính là điều phải làm trước khi nghĩ đến thông tin đối ngoại./.
 
Văn Quang