25 November 2010

Những hình thức mới của hội nghị Diên Hồng

Những hình thức mới của hội nghị Diên Hồng

Nguyễn Hưng Quốc


Lâu lâu, khi đất nước đối diện với những khó khăn và bế tắc, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đây đó, một số người lại đề nghị nên mở một cuộc hội nghị Diên Hồng mới theo mô thức cuộc hội nghị mang tính chất dân chủ đầu tiên thời nhà Trần vào năm 1284.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, "tháng 12, Trần Phủ từ Nguyên trở về, tâu rằng vua Nguyên sai bọn thái tử Trấn Nam Vương Thoát Hoan, Bình chương A Lạt và A Lý Hải Nha đem quân lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp nước ta. Thượng hoàng triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế sách đánh giặc. Các phụ lão đều nói 'đánh', muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng." (1)

Hội Nghị Diên Hồng năm 1284

Bình luận về sự kiện ấy, sử gia Ngô Sĩ Liên viết:

"Giặc Hồ vào cướp nước là nạn lớn của đất nước. Hai vua hiệp mưu, bầy tôi họp bàn há lại không có kế sách gì chống giặc mà phải đợi ban yến hỏi kế ở các phụ lão hay sao? Là vì Thánh Tông muốn làm thế để xét lòng thành ủng hộ của dân chúng, để dân chúng nghe theo lời dụ hỏi mà cảm kích hăng hái lên thôi. Đó là giữ được cái nghĩa người xưa nuôi người già để xin lời hay vậy."(2)

Nhận xét của Ngô Sĩ Liên rất tinh tế. Ông hiểu được những dụng ý chính trị đằng sau cuộc họp mặt với các phụ lão trước nguy cơ xâm lược của nhà Nguyên. Trước đó, Trần Thánh Tông đã tổ chức một cuộc hội nghị khác ở Bình Than, chủ yếu với các vương thân và tướng lãnh để bàn về chiến lược và chiến thuật chống giặc. Mọi phương sách đã được hoạch định. Cuộc hội nghị Diên Hồng chỉ có tính chất chính trị. Như một cách vận động quần chúng.

Từ đó, với người Việt Nam, hình ảnh hội nghị Diên Hồng đã trở thành biểu tượng của sự đoàn kết nhất trí, quyết tâm đánh giặc để bảo vệ độc lập, và đặc biệt, tinh thần dân chủ. Chính vì vậy, lâu lâu, nhiều người lại mơ ước có một cuộc vận động chính trị tương tự để mọi người dân có cơ hội lên tiếng bày tỏ không những nhiệt tâm và quyết tâm mà còn cả tư tưởng của mình trước những biến chuyển quan trọng và lớn lao của đất nước.

Không chừng chính Hồ Chí Minh cũng nghĩ như vậy nên, trước cuộc tổng khởi nghĩa giành độc lập vào đầu tháng 8 năm 1945, ông đã ra lệnh cấp tốc tổ chức cuộc hội nghị toàn quốc của đảng CS và Quốc dân đại hội đại biểu ở Việt Bắc. Họp để thống nhất kế sách giành chính quyền, đã đành. Nhưng họp còn để biểu dương một thứ tinh thần Diên Hồng của thời kỳ tiền-khởi nghĩa nữa.

Có điều, một thứ hội nghị Diên Hồng mang tính biểu tượng như vậy, thật ra, chỉ là một hình thức mị dân. Lý do đơn giản là không có cuộc hội nghị nào có thể quy tụ được đầy đủ dân chúng, hoặc ít nhất, những đại biểu chân chính của dân chúng. Một trăm người ư? Dĩ nhiên là quá ít! Một ngàn người ư? Vẫn ít! Một chục ngàn người ư? Vẫn ít! Trình độ dân trí càng cao, xã hội càng phân hóa, quan điểm chính trị cũng sẽ càng đa dạng. Bởi vậy, một thứ hội nghị Diên Hồng theo tinh thần nhà Trần sẽ không bao giờ có thể xảy ra được nữa. Không bao giờ.

Nhưng không nên bi quan. Trên thế giới, đặc biệt ở Tây phương, người ta vẫn thường xuyên tổ chức các cuộc hội nghị Diên Hồng đó thôi. Xin nhấn mạnh: họ không những tổ chức mà còn tổ chức thường xuyên.

"Diên Hồng" ngày nay

Thì chứ còn gì nữa? Các cuộc bầu cử dân chủ không phải là một thứ hội nghị Diên Hồng đó sao? Bằng lá phiếu của mình, mọi người dân ở lứa tuổi trưởng thành đều được quyền lên tiếng. Cách lên tiếng ấy thầm lặng hơn nhưng rõ ràng, về bản chất, tuyệt đối không có gì khác với những tiếng hô "Quyết chiến!" dõng dạc trước điện Diên Hồng ngày xưa. Không khác gì cả: tất cả đều là những tiếng nói của dân chúng.

Chỉ có vấn đề là: bầu cử thật hay không? Nếu là bầu cử thật thì đó sẽ là một thứ hội nghị Diên Hồng. Mà còn vĩ đại hơn cả hội nghị Diên Hồng: Đó là tiếng nói của mọi người chứ không phải chỉ là một số bậc phụ lão.

Hình thức thứ hai của hội nghị Diên Hồng là các cuộc trưng cầu dân ý. Cách đây mấy tuần, trên một blog nào đó ở trong nước, có người thách thức chính quyền CS Việt Nam  : Lúc nào họ cũng nói nhân dân tin cậy và ủng hộ sự lãnh đạo của họ, và tuyệt đối tin tưởng vào chủ nghĩa xã hội, vậy thì họ thử tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý thực sự dân chủ xem sao. Lúc nào họ cũng nói các chính sách của họ là đúng đắn và hợp lòng dân; vậy thì cứ tổ chức trưng cầu dân ý đi!

Một cuộc trưng cầu dân ý như thế chắc chắn sẽ là một cuộc hội nghị Diên Hồng thời hiện đại.

Nhưng tổ chức trưng cầu dân ý là một việc làm khó khăn và tốn kém.

Thôi thì chúng ta thử tổ chức hội nghị Diên Hồng dưới hình thức khác. Bằng cách thăm dò dư luận nhé? Ừ, tại sao không? Đó cũng là cơ hội để dân chúng lên tiếng và bày tỏ thái độ chứ?

Ở các quốc gia Tây phương, các cuộc thăm dò dư luận như vậy đã có từ lâu và được tổ chức một cách rất đều đặn. Khi có vấn đề gì quan trọng, người ta cũng đều tổ chức các cuộc thăm dò dư luận. Ngay cả khi không có vấn đề gì quan trọng thì vài ba tháng, người ta cũng tổ chức các cuộc thăm dò như thế để biết dân chúng nghĩ gì về chính phủ, về đảng cầm quyền và về lãnh tụ. Đã đành số người được hỏi ý kiến trong các cuộc thăm dò ấy rất giới hạn, nhưng với tính chuyên nghiệp cao như hiện nay, mức độ chính xác của các cuộc thăm dò ấy rất lớn. Lớn đến độ không có chính phủ nào không quan tâm đến nó, không xem đó như một thứ hàn thử biểu chính trị trong dư luận.

Tại sao chính quyền CS Việt Nam lại không cho phép các tổ chức độc lập tiến hành thăm dò dư luận như vậy về các vấn đề quan trọng của đất nước? Như về vai trò của đảng, về tư cách của đảng viên, về tài năng của giới lãnh đạo, hay về mức độ tham nhũng? Như về dự án khai thác bauxite ở Tây nguyên, về việc cho thuê đất thuê rừng hay về cái gọi là đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội vừa rồi?

Kết quả của một cuộc thăm dò dư luận độc lập và khách quan như thế chính là một cuộc hội nghị Diên Hồng đấy!

"Diên Hồng" của bloggers

Có điều cả ba hình thức "Diên Hồng" vừa kể đều khó được thực thi ở Việt Nam. Hai hình thức đầu, bầu cử tự do và trưng cầu dân ý tự do, hoàn toàn nằm trong tay nhà nước. Nhưng nhà nước CS Việt Nam thì chắc chắn không hề thích cái gọi là "tự do" đứng sau chuyện bầu cử và trưng cầu dân ý ấy. Hình thức thứ ba do các tổ chức tư nhân thực hiện, nhưng họ chỉ có thể thực hiện được với một điều kiện tiên quyết: họ phải được phép của chính phủ để làm việc một cách độc lập và khách quan. Mà cả sự độc lập và khách quan cũng lại đều là kẻ thù của chế độ.

Nhưng không nên tuyệt vọng. Vẫn còn một hình thức Diên Hồng khác để dân chúng lên tiếng bày tỏ thái độ và trình bày các suy nghĩ của mình, một hình thức tự do nhất và cũng khả thi nhất: trên blog!

Khi người dân không được tự do bỏ phiếu thì mỗi phát biểu trên blog đây đó đều có thể xem là một lá phiếu. Khi người dân không được phép phát biểu một cách dõng dạc như các bậc phụ lão trước điện Diên Hồng ngày xưa thì họ cũng có thể lên tiếng trong thế giới ảo của internet.

Có thể xem các blog và phần Ý kiến trên các blog là những cuộc hội nghị Diên Hồng của thời đại mới.

Tôi không biết các bạn có đồng ý với nhận định ấy hay không, nhưng tôi biết chắc chắn một điều: chính phủ CS Việt Nam cũng nghĩ vậy. Vì cũng nghĩ như vậy, họ mới ghét phần Ý kiến trên các blog như đã trình bày trong bài "Khi các 'còm sĩ' trở thành một lực lượng đáng sợ" vừa rồi.

Nguyễn Hưng Quốc


Chú thích:

(1) Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2004, tr. 53.
(2) Như trên.


Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


24 November 2010

Trạng Tàu đi sứ Việt

Trạng Tàu đi sứ Việt

Phong Trần


Sau cuộc Hội thảo Quốc Tế về biển Đông, viên sứ Tàu Vương Hàn Lĩnh, thơ thẩn dạo bước gò Đống Đa tìm mãi không thấy đền Sầm Nghi Đống, định trở vế sứ quán Tàu thì may mắn thay gặp một mục đồng đang trên đuờng dắt trâu về nhà. Học giả Tàu mừng rỡ đón đầu thằng bé, hỏi:

- Cháu có biết đền thờ đức thái thú Sầm Nghi Đống ở đâu không?

Thằng bé chăn trâu trố mắt nhìn khách:

- Ông người nước nào mà nói tiếng Việt rành quá vậy?

- Ta người Trung Quốc đây.

- À thì ra là chú Ba Tàu.

Viên sứ Tàu tức càn hông nhưng vì cần sự giúp đỡ nên cắn răng nén giận:

- Ừ! Cháu dẫn chú đến đó được không?

- Dạ, được chứ. Nhưng chú có họ hàng gì với viên thái thú Tàu này không?

- Chả họ hàng gì cả nhưng ta đọc sử, rất ngưỡng mộ Sầm tuớng công nên muốn thắp vài nén hương bái lạy vong linh ngài mà thôi.

- Sùy! Chú đọc sử nào kỳ cục quá vậy. Viên tướng Tàu này bị đại đế Quang Trung đánh cho một trận đến một mảnh giáp cũng không còn, ông có thấy 12 gò đất chôn hai chục vạn quân Thanh ở dưới chân ông không. Sầm Nghi Đống chạy tháo thân cũng không thoát, nhục quá phải tự tử ngay trên mảnh đất này.

- Láo! Láo! Quân ta rút hết về nước an toàn. Sầm tướng công can trường ở lại chặn hậu bị lạc tiễn mà hy sinh tính mệnh thôi.

- Thế 12 gò đất này chôn xác gà chó à.

- Chú còn bé mà sao dám hỗn hào với người Hán của ta thế.

- Đã là quân xâm lược thì sao là người tử tế được.

- Chú bé nên nhớ Việt Nam trước kia cũng là đất Trung Quốc nên sẽ có lúc châu về hợp phố.

- Ngày xưa Liễu Thăng bị chém đầu ở Chi Lăng, rồi mấy chục ngàn quân Tàu vùi thây ở Bạch Đằng giang, hai mươi vạn quân Thanh phơi xác ở đây cũng vì cứ tưởng đất này của người Tàu đấy thôi.

- Ta đã đòi được Hoàng Sa, và sắp lấy hết Trường Sa thì mảnh đất bé nhỏ với một nhúm dân này làm sao mà chống cự nổi.

- Hừ! chú quên bài học biên giới năm 1979 rồi à.

- Ngày ấy ta còn nể tình vừa là đồng chí vừa là láng giềng hữu hảo nên chỉ dạy bảo sơ sơ. Nay khác rồi nhé. Trung Quốc có hàng vạn tàu chiến lớn nhỏ, hàng vạn máy bay siêu thanh, hàng vạn hỏa tiễn liên lục địa nên muốn thôn tính nước Nam còn dễ hơn lấy đồ trong túi. Nhưng ta khai thác xong bô-xít, trồng xong rừng đầu nguồn, lấy lại hết Nam Hải rồi mới tính sổ với Việt Nam.

Nói tới đây thì hai người đã đến đền thờ Sầm Nghi Đống. Viên sứ Tàu cười mỉa:

- Dân Việt cũng biết sợ người Tàu đấy nên mới lập đền thờ tướng địch.

Thằng bé chăn trâu cười ngất:

- Quân tử Việt không giống quân tử Tàu đâu. Sầm Nghi Đống biết nhục mà tự tử thì cũng còn chút liêm sỉ biết người biết mình. Chú có muốn nghe bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương vịnh đền thờ này không?

- Hảo, hảo, chú đọc cho ta nghe đi.

Thằng bé mỉm cười đọc một hơi:
"Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu"
Viên sứ Tàu tái mặt:

- Hồ Xuân Hương là ai mà làm thơ độc vậy?

- Chú không hiểu nổi thơ Hồ Xuân Hương đâu.

Viên sứ Tàu đảo mắt nhìn đền thờ một lượt, thở dài, rồi bỏ ra về. Trước khi quay gót còn quay lại nhắn thằng bé chăn trâu:

- Nếu lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam mà có vài người như chú mày thì ai mà dám bắt nạt Việt Nam.

Phong Trần


Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


23 November 2010

Cuộc chơi phải chấm dứt!

Cuộc chơi phải chấm dứt!

Đào Hữu Nghĩa Nhân


Chúng ta có cần tự do không? Tự do không có nghĩa là cơ hội cho cái tôi vui thú và không cần quan tâm đến người khác. Người tự do phải thấu hiểu được ý nghĩa tự do tối thượng này. Chỉ khi bạn thấu hiểu được ý nghĩa của hai tiếng tự do như thế, bạn mới bắt đầu lên tiếng cho vai trò của mình, một cá nhân sống có trách nhiệm trong một xã hội thất điên bát đảo này. Một xã hội đã và đang bị những kẻ tham vọng quyền lực quản trị làm cho ngày càng thối nát hơn lúc nào hết.

Bạn có lo lắng cho tương lai của một Tây Nguyên bị băm nát vì chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước không? Bạn có lo lắng Đảng chủ trương cho thuê rừng 50 năm mà thực chất là giao đất cho Trung Quốc thuê với giá rẻ mạt không? Bạn có lo lắng thành phố nơi bạn đang sống ngày càng ô nhiễm nặng nề và vô phương cứu chữa không? Bạn có lo lắng tình hình tham nhũng ngày càng tinh vi và phức tạp hơn không? Hành vi tham nhũng ngày càng lộ rõ chỉ ở cấp phường xã thôi không? Nơi mà phần lớn cán bộ không có nhiều học thức đủ khôn để che dấu tội lỗi của mình? Bạn có lo lắng nhìn thấy miền Trung ngày càng ngập lụt nghiêm trọng hơn không? Bạn có lo lắng vì các nhóm lợi ích mà nhà nước ký hàng loạt các nhà máy thủy điện vừa, nhỏ, lớn thi nhau ào ạt triển khai ở miền Trung bất chấp những tác hại môi trường khủng khiếp để lại cho người dân thấp cổ bé họng? Bạn có lo lắng thứ thực phẩm mà chúng ta đang ăn hàng ngày có an toàn cho bản thân ta và các thế hệ tương lai con cái ta hay không?…

Vâng chúng ta có quá nhiều những nỗi lo lắng, lo lắng một nền giáo dục ngày càng tồi tệ, lo lắng chúng ta không còn an toàn sống trong xã hội này; lo lắng sự chết có thể đến với ta bất kỳ lúc nào vì tai nạn giao thông, vì cây ngã, vì hố tử thần, vì lọt cống, vì điện giật, và vì những bắt bớ vì cái gọi là chống phá chính quyền nhân dân…

Chúng ta có quá nhiều nỗi lo


Bạn, tôi và chúng ta làm gì đối phó với những nỗi lo lắng hàng ngày đó? Bạn là một doanh nhân thành đạt ma mãnh? Con cái bạn sẽ học trong những ngôi trường tốt nhất được đầu tư của nước ngoài. Bạn sẽ dùng thực phẩm của Goumet, bạn sống trong những ngôi nhà an toàn ở Phú Mỹ Hưng. Hay thậm chí bạn mua một ngôi nhà ở Mỹ hay Úc chẳng hạn?

Còn các vị quan chức giàu có của ta, những kẻ cơ hội, những kẻ lợi dụng sự giàu có từ các tập đoàn kinh tế, từ quyền lực, từ đầu tư công, từ tham nhũng, từ khai thác tài nguyên, từ các chính sách xã hội bất cập… sẽ đối phó với nỗi lo do chính họ tạo ra như thế nào? Phải chăng con cái họ êm ấm trong những ngôi trường tận trời Tây xa xôi, trú thân trong những ngôi nhà do chính cha mẹ chúng mua bằng tiền tham nhũng?

Còn tôi và các bạn, phần đông những người dân ở đất nước chết tiệt này phải đối phó ra sao về những nỗi lo lắng không đáng có đó? Tôi làm gì được cho con cái tôi, tôi mua thực phẩm từ chợ, tôi sống trong ngôi nhà không biết lúc nào sẽ bị quy hoạch, tôi dùng nguồn nước ô nhiễm, hít thở bầu không khí ô nhiễm, đi làm thường xuyên trên những con đường đầy hố tử thần và ngập nước! Cho con học hành mà lo ngay ngáy về số phận của nó trong tương lai, không thể bảo đảm rằng con tôi sẽ trở về nhà một cách an toàn, không biết rồi một ngày nào đó chúng sẽ phát những căn bệnh do ô nhiễm, do thực phẩm nhiễm độc vì thuốc trừ sâu Trung Quốc… Tôi bất lực bảo vệ chúng khỏi những tác hại khủng khiếp từ ma túy, từ game online, từ môi trường giáo dục đầy bạo động và dối trá?

Và các bạn, những người nông dân ngàn đời nghèo khó, và nghèo khó hơn từ khi ta có Đảng. Các bạn có biết hàng ngày các bạn sử dụng thuốc trừ sâu có nguồn gốc từ đâu không? Thực phẩm các bạn làm ra có an toàn cho xã hội không? Và thậm chí có an toàn cho bạn không khi hàng ngày bạn dùng loại thuốc gớm ghiếc này xuất xứ từ Trung Quốc? Lợi nhuận từ các sản phẩm bạn làm ra, bạn có thừa hưởng phần lớn không hay phải rơi vào các tay lái buôn nhà nước đểu giả. Con cái bạn học hành ra sao? Con cái bạn có được đến trường không? Chúng có hoàn thành toàn bộ việc học của chúng mà cha mẹ chúng không phải lo đau đáu câu hỏi tiền đâu đóng học phí cho chúng? Hay chúng đành phải bỏ dở việc học vì mưu sinh, trở thành những người nông dân nghèo truyền kiếp với mảnh ruộng còm cõi ngày càng kém phì nhiêu và ô nhiễm hóa chất Trung Quốc của cha mẹ chúng, thành các công nhân không tay nghề trong những công xưởng với đồng lương chết đói, sống trong những căn nhà trọ tồi tàn, phụ nữ vô tư phá thai, con trai thì ma túy, nhậu nhẹt… còn con gái nếu có chút nhan sắc chúng sẽ bán thân mình trong các động chứa, gái bao cho những kẻ thừa tiền và quyền, hay thành nạn nhân của những kẻ buôn người vô đạo đức, hoặc mưu cầu tấm chồng xa xứ ở trời Tây?…

Hỡi các nhà giáo chân chính và không chân chính, các nhà giáo nhân dân và không nhân dân, các nhà giáo ưu tú và không ưu tú, các giáo sư, phó giáo sư được phong tước và chạy chọt để phong tước. Các vị có thấy các vị đã tiếp tay cho việc dạy dỗ đáng hổ thẹn này như thế nào không? Con cái các vị thoát ra khỏi guồng máy đáng sợ này như thế nào? Làm thế nào mà các vị có thể cúi đầu im lặng chấp nhận sự chỉ đạo giáo dục tồi tệ hơn ba mươi năm qua từ các nhà lãnh đạo sư phạm đáng phỉ nhổ của Đảng? Làm thế nào mà các vị có thể chấp nhận dạy dỗ các thế hệ tương lai theo hết tinh thần cải cách chết tiệt này sang tinh thần cải cách chết tiệt khác? Bản chất "người thầy" trong các vị không phải có tinh thần độc lập sao? Các vị không cần có tính sáng tạo trong giảng dạy sao? Các vị có vui không khi những sản phẩm ra lò từ các vị chỉ là những đứa trẻ hoàn toàn rập khuôn, chấp nhận và không hề phủ nhận kiến thức từ người thầy? Có lẽ vì vậy mà các vị giống các khuôn đúc mẫu hơn là một người thầy đúng nghĩa!

Riêng các vị lãnh đạo đáng khinh của chúng ta, các vị chỉ là một nhúm nhỏ quyền lực nhưng có chỗ dựa từ quân đội và công an đảm bảo cho quyền lực của các vị được duy trì và ổn định, các vị có lo lắng gì từ một xã hội bát nháo do các vị điều hành không? Các vị có biết vì sao các vị bằng mọi giá phải khai thác tài nguyên hiếm hoi từ lòng đất để phát triển không? Bởi vì các vị không có đủ nguồn lực từ chất xám của dân chúng. Trong khi các vị cần tiền cho bộ máy nhũng lạm và nhiều thứ phải chi khác để làm đẹp các con số phát triển giả tạo và không bền vững! Có lẽ chưa bao giờ đất nước chúng tôi phải chứng kiến một giai đoạn khai thác tài nguyên tận diệt và lớn nhất từ trước tới nay? Các vị lo lắng sao cho dân chúng im lặng phải không? Mong sao sự đồng thuận giả tạo đến từ cửa miệng của mọi người? Mong sao cho cái tập hợp mà các vị đang cố kết có sự đoàn kết và luôn miệng tung hô các vị muôn năm phải không? Mặc nhiên chấp nhận sự lãnh đạo của các vị như là sự ban ân huệ từ đấng tối cao? Để mặc cho các vị ngày càng phá nát đất nước này nhưng vẫn vui vẻ? Xem các thử nghiệm ngu ngốc của các vị trong điều hành kinh tế như là một mô hình? Thất bại, thành công gì cũng là bài học bổ ích? Xem tham nhũng cũng giống như là dân trả ơn cho các vị vì công lao to lớn mà các vị cống hiến cho đất nước này?



Tóm lại, chúng ta chờ đợi gì để làm vơi nhẹ những nỗi lo thường trực này trong đời sống của chúng ta? Chờ đợi trí tuệ của đảng ư? Chờ đợi hết đại hội này sang đại hội khác rằng đảng sẽ thay đổi, rằng đảng đang từng bước khắc phục những lo lắng đó trong lòng bạn ư? Rằng trong đảng ta ngày càng có nhiều người du học từ Havard, từ Oxford, từ Cambridge… rằng rồi các vị lãnh đạo khả kính đó sẽ dần nhận ra những thay đổi khẩn thiết để tồn tại? Liệu chúng ta có còn đủ can đảm để chờ đợi lòng từ tâm của kẻ nghiện quyền lực không? Liệu chúng ta có chờ đợi để khi bùn đỏ tràn về rồi mới lên tiếng hay không? Liệu chúng ta có còn đủ thời gian chờ đợi cơn lũ khủng khiếp sẽ đổ vào ngôi nhà bạn trong nay mai sao? Liệu chúng ta chết dần, chết mòn vì ô nhiễm để chờ đợi sao? Liệu rồi một ngày nào đó đất nước này nằm trong tay một "chủ nhân thống trị từ xa" rồi mới bắt đầu thay đổi hay sao?

Không, chúng ta không còn thời gian để chờ đợi nữa. Mỗi cá nhân phải là một chiến sĩ đấu tranh quyết liệt cho sự tồn tại của chúng ta. Phải mạnh mẽ góp phần lãnh đạo đất nước này, không để cho đảng được phép nắm cái quyền một mình một chợ muốn làm gì thì làm! Đảng không phải là một tập hợp trí tuệ. Đảng chỉ là một tập hợp những kẻ có nhiều quyền lợi riêng tư khác nhau. Đảng không bao giờ và mãi mãi không bao giờ có thể làm thay đổi vận mệnh đất nước nếu mỗi chúng ta cứ cúi đầu chấp nhận. Vai trò của Đảng đã thuộc về quá khứ. Đảng phải hiểu rằng sẽ chẳng bao giờ có một tập hợp đủ mạnh nếu Đảng tiếp tục ngoan cố như hiện tại. Đảng hãy dũng cảm chia sẻ quyền lực với dân chúng, chấp nhận những tiếng nói phản biện từ trí thức, phải xem sự khác biệt ý kiến là hết sức lành mạnh. Chấp nhận tự do chỉ trích, chấp nhận truyền thông là của nhân dân! ... Phải tự tri con người tâm lý của mình rằng Đảng không đủ sức để điều hành đất nước này bằng con đường độc tài. Đừng để lịch sử truy vấn về vai trò tội ác của Đảng trong tương lai?

Tất cả những cái đó phải bắt đầu từ chúng ta, đừng chờ đợi vô ích lòng từ tâm của kẻ thống trị! Tham lam, độc ác và ngu muội.

Lịch sử đang chờ đợi chúng ta! Phải hành động thôi!

Đào Hữu Nghĩa Nhân



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


NHÂN VẬT VIỆT NAM NÀO ĐÃ TỪNG NHẬN TIỀN CỦA CIA ?

NHÂN VẬT VIỆT NAM NÀO

ĐÃ TỪNG NHẬN TIỀN CỦA CIA ?


TIME / Bobby Ghosh

 

 

Những nguồn tin cho rằng em trai của Tổng thống Hamid Karzai tại Afghanistan đã từng làm việc cho CIA (Central Intelligence Agency: Cục Trung ương Tình báo Mỹ) nhắc chúng ta nhớ đến một danh sách dài những "tài sản quý" (assets) lỗi lạc và không lỗi lạc của CIA trên thế giới.

 Trong số đó có sáu người đặc biệt:

1- John Roselli: Một trùm Mafia được CIA "thuê" vào đầu thập niên 1960' để ám sát Fidel Castro. Năm 1976, đến phiên ông ta bị ám sát, xác dấu trong một thùng dầu trôi ngoài bờ thành phố Miami, tiểu bang Florida.

2- Thubten Jigme Norbu: Anh trưởng của Đức Dalai Latma, nhận tài trợ của CIA để trang bị vũ khí cho du kích quân Tây Tạng chống lại quân chiếm đóng Trung Quốc trong thập niên 1950'..

3- Vua Hussein của nước Jordan: CIA tiếp tục trả tiền cho vị vua nầy từ năm 1957, theo lời yêu cầu của các đồng nghiệp MI6 ở Anh. Mỗi năm, vua Hussein nhận một triệu Mỹ kim cho đến năm 1977 thì bị Tổng thống Mỹ Carter ra lệnh chấm dứt.

4- Manuel Noriega: Liên hệ từ thập niên 50' và bắt đầu nhận tiền từ thập niên 70', vị tướng độc tài Panama nầy cho phép Mỹ dùng nước mình làm xuất phát điểm giúp phiến quân Nicaragua chống lại chính phủ tả khuynh Sandinista. Để trả ơn, CIA làm ngơ cho ông Noriega duy trì một "chế độ ăn cắp thuốc phiện" (narco-kleptocracy). Nhưng sau đó, vì mâu thuẫn, Mỹ xâm chiếm Panama vào năm 1989 và bắt ông Noriega đem về cầm tù ở Miami.

5- Ngô Đình Nhu: Em ruột và Cố vấn của Ngô Đình Diệm (xem chi tiết ở dưới)

6- Tướng Đặng Văn Quang: Cố vấn Quân sự của Nguyễn Văn Thiệu (xem chi tiết ở dưới)

 

 

 

[http://www.time.com/time/specials/packages/completelist/0,29569,1933053,00.html]

 

 

Ngô Đình Nhu – Bobby Ghosh/Washington biên tập

Thứ Tư, 28 tháng 10 năm 2009.

 

 

Cũng như ông Ahmed Wali Karzai [ở Afghanistan], Nhu là người em bị nguyền rũa khá nhiều của một vị tổng thống mất lòng dân, ông Diệm. (Nhu có thêm hai người anh em nữa: một làm Tổng Giám mục, và một cai quản những tỉnh miền Trung của Nam Việt Nam). CIA bị cho là đã giúp Nhu thành lập Lực lượng Đặc biệt của Việt Nam, chủ yếu dùng để duy trì nền cai trị của các anh em [nhà Ngô]. Được biết với tên tắt ARVN [/SF], những lực lượng nầy nỗi tiếng về tra tấn, đàn áp (đặc biệt chống lại Phật giáo đồ trong nước) và tham nhũng. Theo thời gian, nuớc Mỹ thấy Nhu là một món nợ cho quyền lợi của Mỹ tại Nam Việt Nam nên đã cắt nguồn viện trợ. Nhu và Diệm bị ám sát vào năm 1963 với sự hổ trợ ngầm của chính phủ Mỹ.

 

[http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1933053_19330-52_1933044,00.html]

 

 

 

 

Đặng Văn Quang – Bobby Ghosh/Washington biên tập

Thứ Tư, 28 tháng 10 năm 2009.

 

Ở đây cũng có những điểm tương đồng với Ahmed Wali Karzai [của Afghanistan], tướng Quang, Cố vấn Quân sự đặc biệt cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, được rất nhiều giới cho rằng là một người buôn thuốc phiện lậu.

 

Điều nầy  đã tạo ra xích mích giữa một bên là CIA vốn đánh giá tướng Quang như một món hàng quý, và một bên là giới chức quân sự Mỹ, vốn xem ông ta như một kẻ lừa đảo. Tướng Quang đi Mỹ sau khi Sài Gòn sụp đổ; sau một chuyến đi Canada vào năm 1975, ông ta bị cấm trở lại Mỹ cho đến năm 1989, Bộ Ngoại giao Mỹ giũ sạch cho ông hết tất cả những cáo buộc về thuốc phiện.

  

[http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1933053_1933-052_1933045,00.html]




Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


18 November 2010

Bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn

Thưa Quý vị ,
Hải ngoại, từ sau ngày 30.04.1975 , cứ vào đầu mùa thu từng năm trôi qua, người hoài " Ngô "
vẫn đào xới đống tro tàn " 9 năm Ngô Triều " tìm lại chút dư hương , thỏa lòng cuồng vọng !
Bài khảo luận " Bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn " của Tiên-sinh Lê Nguyên Long được phổ biến
trên tập san " Khai Phóng số 7 " vào năm 1981, đến nay thấm thoát đã 29 năm. Tuy nhiên, bài
khảo luận vẫn đầy đủ tính chất thời gian cũng như giá trị về việc phơi bày, luận giải sự thật về
chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, cầm quyền sinh sát Miền Nam trong suốt 9 năm dài .
47 năm trôi qua, lại một lần nữa bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn tìm lại chứng cứ bạo tàn .
Nhóm LýTrầnLêNguyễn / Paris kính chuyển đến quý vị bài khảo luận giá trị :


        Bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn

Lê Nguyên Long


 

 LTS: Tác giả bài này là một nhân sĩ miền Trung, lãnh tụ Việt Quốc vùng Nam Ngãi. Trưởng thành qua những thời đại Phong kiến, Độc tài, Cộng Sản. Ông đã là chứng nhân của lịch sử cận và hiện đại. Bài viết của ông sau đây, dù thuộc về một đề tài vốn đã được nói nhiều nhưng vì tính cách chứng nhân đó của tác giả mà nó vẫn có cái giá trị riêng biệt của nó - cần thiết cho một cái nhìn đúng đắn về lịch sử. – KP, 1981

 

 Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm bị hạ sát cách đây đã gần hai thập niên, sự việc đã chìm vào quên lãng, đáng lẽ những ân oán xa xưa chẳng nên đề cập, nhưng hơn vài năm nay nơi hải ngoại, một vài tổ chức đã phát động phong trào suy tôn ông Diệm. Một vài tờ báo đã đề cao ông Diệm như: "Lịch sử đã ghi tên Ngô Đình Diệm là một vĩ nhân cận đại, lịch sử đã ghi nhận Ngô Đình Diệm là một nhà đại ái quốc, một người Việt Nam kiêu hùng, một cứu tinh của dân tộc v.v..." và đã có nhiều kẻ từng thừa hưởng đỉnh chung của nhà Ngô đã lập luận: "Nếu ông Diệm không chết thì chúng ta đã không mất nước!".

Kẻ viết bài này thật sự luôn luôn thiết tha với tình tự đoàn kết quốc gia dân tộc, không muốn khơi lại đống tro tàn ô uế dĩ vãng... Đã bỏ nước đau khổ lưu vong thôi thì tất cả ai cũng chống Cộng là đồng chí, là anh em... nhưng thiết nghĩ Sự Thật chẳng thể bẻ cong, nhất là sự thật lịch sử phải trả cho lịch sử.

Lịch sử Việt Nam không thể gọi vua Long Đỉnh Ngọa Triều là anh quân, Mạc Đăng Dung là ông vua anh hùng, Lê Chiêu Thống là ông vua cứu nước. Vậy thì sự thật như thế nào về thời Ngô Đình Diệm phải được minh định để trả sự thật về cho lịch sử.

Từ ngày được Hồng Y Spellman đỡ đầu, được Chính phủ Eisenhower ủng hộ, được Quốc trưởng Bảo Đại chấp nhận, ông Ngô Đình Diệm từ Hoa Kỳ về chấp chánh ở Việt Nam năm 1954, trong khi Hiệp định Genève sắp kết thúc, (tháng 7-1954).

Lúc đó, lòng dân thật tình hướng về ông Ngô Đình Diệm. Người ta đã nghĩ ông Diệm sau khi từ quan, chu du ngoại quốc, chắc hẳn là một nhà lãnh đạo quốc gia xứng đáng. Hầu hết các phe phái và các nhân vật quốc gia đã nồng nhiệt tin tưởng và kỳ vọng ở ông Diệm.

Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn cầm quyền, chủ trương độc tôn, độc tài, phản bội, lật lọng, phong kiến, thối nát, bất lực, kỳ thị của nhà Ngô đã lần lượt thể hiện... Khiến những người vốn tích cực ủng hộ ông Diệm, đến những người vô tư khách quan với ông Diệm lần lượt đứng lên chống đối và nhà Ngô đã dùng thủ đoạn sắt máu đàn áp để củng cố địa vị suốt 9 năm cầm quyền.

Có thể nói trừ chế độ Cộng Sản ra, chưa có một chế độ nào ở Việt Nam đã đàn áp, thủ tiêu, ám sát, bắt cóc, tra tấn, cầm tù hàng vạn người quốc gia cũng như các tu sĩ các tôn giáo như thời Diệm. Trừ Cộng Sản ra, chưa có một chế độ nào đã thẳng tay đàn áp đối lập để củng cố địa vị như chế độ ông Diệm. Chưa có một chế độ nào phản dân chủ và khinh thị lợi dụng nhân dân làm cái bung xung để hợp thức hóa các chức vụ theo ý muốn của mình bằng cách tổ chức những cuộc bầu cử gian lận như chế độ ông Diệm.

Tất cả những ai chỉ ở thủ đô hoặc các thành phố lớn khó lòng thấy rõ chánh sách gian ác, hành động bất nhân, phản dân hại nước của chế độ Diệm, mà phải quan sát ở các tỉnh, quận, nông thôn (90% lãnh thổ toàn quốc) mới thấy rõ tội ác của tay chân nhà Ngô một thời... mà có người đã nói: Trúc Nam Sơn không thể chép hết tội, nước muôn sông không thể nào rửa hết nhơ!

Rõ ràng ông Diệm đã có một cái may mắn mà chưa có một nhân vật lãnh đạo quốc gia nào sau 1945 được cái may mắn như ông kể từ Chính phủ Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm đến Bửu Lộc là: Đất nước đã tạm chấm dứt chiến tranh, dân tình phấn khởi bồng bột ủng hộ người lãnh đạo và được ngoại viện dồi dào như ông Diệm.

Ông Diệm cầm quyền sau Hiệp định Genève, khoảng 6 năm trời từ 1954 đến 1959 miền Nam không có chiến tranh và chưa có Cộng Sản hoạt động đáng kể. Từ thành thị đến thôn quê quốc gia có thể kiểm soát chặt chẽ khắp hang cùng ngõ hẻm. Đại đa số dân chúng nông thôn ở các vùng Cộng Sản chiếm từ trước như Nam, Ngãi, Bình, Phú chẳng hạn, đã chán ngấy thù ghét Cộng Sản và đều ngã về Quốc gia. Ông Diệm còn có một kho cán bộ kinh nghiệm chống Cộng, vốn mắc kẹt trong vùng Cộng Sản hoặc một số lớn thị thành, vì mặc cảm làm việc cho Pháp, đã "trùm chăn", nay vươn mình đứng lên tích cực ủng hộ cho Ngô Thủ tướng.

Lúc ấy ở miền Trung có hàng nghìn cán bộ không cần làm việc có lương nhiều, chỉ sao đủ sống đạm bạc để hoạt động chống Cộng là họ thỏa chí. Bao năm khổ đau sống trong tăm tối của Cộng Sản, nay ánh sáng quốc gia rọi về, họ hứng khởi đứng dậy, lửa chống Cộng bừng bừng, khí thế Cộng Sản lụi tàn. Nhưng ngay lúc đó, ông Diệm và tay chân của ông lo diệt người Quốc gia hơn là Cộng Sản, một thời cơ thuận lợi để nắm dân ông Diệm đã đánh mất!

Những cuộc bầu cử như Trưng Cầu Dân ý truất phế Bảo Đại, bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, Lập Pháp, Tổng thống đều hoàn toàn gian lận vi luật trắng trợn. Ông Diệm đã hạ lệnh cho quân đội tấn công Hòa Hảo, Cao Đài vốn là những lực lượng chống Cộng, hữu hiệu từ 1945 đến bây giờ và nếu ông Diệm không độc tôn đã có thể đoàn kết thu hút họ. Ông đã lường gạt tướng Lê Quang Vinh, người hùng Nam Bộ, từng lập chiến khu chống cả Pháp lẫn Cộng về hợp tác, rồi bắt chặt đầu. Cái chết bí mật của tướng Cao Đài Trình Minh Thế cũng trong nghi vấn là ông Diệm đã giết.

Và, ác nghiệt hơn cả, nhà Ngô đã tuyển chọn quân đội người Nùng - một binh chủng thiện chiến say máu - thời bấy giờ, và các chỉ huy trưởng có đảng tịch Cần Lao cầm quân vào các chiến khu Quốc Dân Đảng ở miền Trung với ác lệnh: giết sạch. Sự tấn công vào các chiến khu Quốc Dân Đảng còn tàn độc hơn hồi giặc Pháp đi "càn quét" nhiều. Đốt thực phẩm đốt nhà, tra tấn giết người một cách tàn ác đã xảy ra ở Quế Sơn, Tiên Phước, Duy Xuyên v.v... vào những năm 1955-1956.

Với lối tấn công ấy, nhà Ngô đã phá vỡ được chiến khu Ba Lòng của Đại Việt, nhưng không thể tiêu diệt các chiến khu Quốc Dân Đảng. Thuở đó quân du kích Quốc Dân Đảng Nam Ngãi đã giáng cho chính quyền địa phương Diệm nhiều đòn chí tử. Biết rõ không thể tấn công để thủ thắng, cuối cùng Ngô Đình Cẩn, bào đệ ông Diệm, lập kế mời về hợp tác. Làm kế phỉnh gạt, hơn 2000 nghĩa binh Quốc Dân Đảng kéo về với đầy đủ vũ khí và làm lễ hợp tác tại Hội An cuối năm 1956. Nhưng sau đó bọn họ đều bị thủ tiêu và lần lượt bị bắt đi mất tích. (Khi ông Diệm đổ, một số trong bọn họ đã được thả ra, nhưng đều thân tàn ma dại).

Thiết tưởng kẻ viết cần trình bày rõ là Quốc Dân Đảng miền Trung lúc đầu ủng hộ ông Diệm tích cực. Họ đã lên án Nguyễn Văn Hinh và ủng hộ ông Diệm để chống Cộng. Họ đã có cán bộ giữ chức vị Tỉnh trưởng và Quận trưởng ở hai tỉnh lớn Nam Ngãi (Quảng Nam Tỉnh trưởng Lê Trung Chi, Quảng Ngãi Phạm Đình Nghị). Phong trào tố Cộng ly khai Cộng Sản, xé đảng kỳ Cộng Sản, bắt đầu tháng 10-1954 do họ tiên khởi phát động ở Quảng Nam rồi sau mới lan ra toàn quốc, nhưng tay chân nhà Ngô nhận định: Nếu để uy thế Quốc Dân Đảng miền Trung lan tràn thì Phong trào Cách mạng Quốc gia và đảng Cần Lao Nhân Vị do nhà Ngô đẻ ra sẽ tuyệt địa. Nên ông Diệm bất thần giải chức các Tỉnh trưởng và bắt giam hàng loạt các Quận trưởng Quốc Dân Đảng ở hai tỉnh Nam Ngãi và mật lệnh triệt hạ toàn bộ Quốc Dân Đảng (lại vu cáo Quốc Dân Đảng theo Pháp). Và, vì cớ ấy, khoảng tháng 3-1955 Quốc Dân Đảng miền Trung lập chiến khu để tự vệ và để quật khởi chống Diệm.

Trong suốt 9 năm ông Diệm cầm quyền, thời gian đó ở nông thôn cơ quan nào cũng có thể bắt người. Công an bắt người, Xã trưởng bắt người, Cách Mạng Quốc Gia (phong trào đẻ ra từ nhà Ngô) cũng bắt người rồi giao cho Công an trừng trị. Nhưng ghê tởm nhất là đoàn "Mật Vụ Miền Trung" do Ngô Đình Cẩn đỡ đầu. Đó là đoàn hung thần toàn quyền sinh sát. Đoàn có quyền đi khắp nơi, đến đâu địa phương phải tiếp rước chu đáo. Đoàn cần bắt ai thì giao cho Công an đi bắt bất kỳ đêm ngày. Nếu tra tấn chết thì Quận trưởng và Công an phải lập biên bản hợp thức hóa sự chết và bị bắt không cần phải có chứng cớ chỉ bị nghi chống Chính phủ là bị bắt. (Tại Long Beach, California có một đồng hương từ ngày vào đất Mỹ đến nay, vẫn nằm bẹp ở nhà, vì bệnh cũ tái phát, hậu quả của sự tra tấn tàn độc của mật vụ Diệm).

Hầu hết viên chức chính quyền từ Quận trưởng, Ty trưởng, Tỉnh trưởng ở miền Trung được bổ dụng thời đó, không phải vì khả năng chuyên môn hay tài đức, mà vì lòng trung thành hay mức quỳ lụy cao thấp đối với gia đình nhà Ngô thôi. Phần lớn viên chức chỉ huy cấp Tỉnh, Quận được bổ dụng do một người ở hậu trường định đoạt. Đó là ông Ngô Đình Cẩn, bào đệ ông Diệm, với chức vụ "Cố vấn Chỉ đạo" Phong trào Cách mạng Quốc gia (chức vụ này trên danh nghĩa là một tổ chức nhân dân, nhưng trên thực tế là quyền quyết định tối hậu) cũng như ở miền Nam thì do vợ chồng ông Nhu định đoạt.

Cũng vì lối bổ dụng đặc biệt này mới có tên Nguyễn Văn Tất nguyên là hương bộ thôn thời Pháp thuộc, nghiễm nhiên thành Tỉnh trưởng Quảng Ngãi; Lê Gia Quyến, cán bộ phù động hạng chót, bỗng nhiên là Quận trưởng Trà Bồng. (Hai tên này khi Diệm đổ thì bị bắt) và còn hàng chục hàng trăm trường hợp bổ dụng tương tự kể sao cho xiết. Cũng vì lối bổ dụng này mới có tên Thái, Quận trưởng Điện Bàn, mỗi khi đi hành hạt có điều phật ý là cầm "ba tông" đánh xả lên đầu viên chức xã. Cũng vì lối bổ dụng này mà các Tỉnh, Quận trưởng mỗi khi về chầu hầu ông Cố vấn chỉ đạo, ông đều xem như tôi tớ, xưng hô "mày tao" nhưng bọn vô liêm sỉ này vẫn gật đầu vâng dạ và xem sự điếu đóm chầu hầu "cậu" là một diễm phúc có hy vọng thăng quan tiến chức hoặc giữ vững địa vị.

Trước 1954 các Xã trưởng đều được dân bầu, nhưng thời Diệm đã bãi bỏ bầu cử các viên chức Xã. Lại cho quyền Quận trưởng đề nghị lên Tỉnh trưởng bổ dụng hoặc cách chức viên chức xã, ấp. Vì thế các Xã trưởng, ấp trưởng là những tôi tớ của Quận, Tỉnh hoàn toàn không phải của dân. (Điểm này phải khen ông Diệm thành thật. Tuy phản bội nguyên tắc dân chủ trắng trợn, nhưng lại có minh văn. Nghị định bãi bỏ bầu cử xã 1956). Vì bộ máy chính quyền gồm toàn tay sai, tổ chức theo lối gia nô hóa cho nhà Ngô như vậy, cho nên đã gây ra bao nhiêu tham nhũng bất công, tang tóc, tù đày cho lương dân vô tội nơi nông thôn. Mỗi một chính sách của nhà Ngô đưa ra là dân chúng kinh hoàng.

Quốc sách Dinh Điền nghe thuyết trình thì thật hay nhưng thi hành thì lệch lạc sai quấy. Cán bộ Xã, Ấp cứ nhằm những người mình thù ghét hoặc cần làm tiền thì ép buộc phải đi dinh điền. Thế cho nên ở một vài tỉnh đã có người tự tử vì bị ép buộc. Còn những người chịu đi Dinh Điền, khi đến nơi lại bị cán bộ dinh điền hành hạ, đối xử bất công, ăn chận của cấp phát v.v... nhiều sự không tốt xảy ra khiến họ chán nản trốn về, vì vậy tỉnh nào cũng có người ở tù vì chống phá quốc sách dinh điền.

Quốc sách Dinh Điền của nhà Ngô trừ một vài vùng tương đối thành công, còn phần lớn, hàng chục vùng Dinh Điền khác đều thất bại hoàn toàn. Dân chúng lũ lượt trốn về quê, rồi bị bắt bớ đánh đập đã tổn phí tiêu hao không biết bao nhiêu công quỹ! Nhà "lãnh đạo anh minh" có lần đi kinh lý một vùng dinh điền nhìn thấy những cây ăn trái được trồng trọt tốt tươi, ngay thẳng, ông ta ban khen, nhưng chính đó là những nhánh cây vừa được chặt cắm xuống đất trong ban đêm, do sáng kiến của khu trưởng Dinh Điền chào mừng Tổng thống.

Về Quốc sách Ấp Chiến Lược là một quốc sách vô hiệu, nhưng đã làm phiền nhiễu hành hạ dân chúng không thể kể xiết. Ấp Chiến Lược trước hết là phải rào làng-Xã, Ấp bằng nhằm vào những nhà có của khá giả trong làng đe dọa sẽ bỏ ra ngoài vòng rào vì những lý do "tiện" hoặc "bất tiện" theo ý của họ. Thế là màn trà nước van xin được diễn ra (vì bỏ ra ngoài rào là chết). Rồi đến khi rào làng, thì dân chúng phải tự nai lưng ra tìm kiếm vật liệu như tre, gai, cọc gỗ v.v... và bỏ công đi rào ngày này qua ngày nọ. Còn quỹ Ấp Chiến Lược do Mỹ viện trợ phần nhiều do Tỉnh trưởng, Quận trưởng chia nhau bỏ túi hoặc làm kinh tài cho "Cậu". Sự rào các Xã cho đúng tiêu chuẩn là một điều kiện khó khăn mà dân làng không đủ sức vì quá tốn kém. Vì vậy Ấp Chiến Lược chỉ được rào kỹ một vài đoạn bề mặt để trình diện và để báo cáo. Còn lại, thì chỉ rào sơ sài, ai ra vào cũng được. Nhưng mỗi tháng một lần, Xã, Ấp lại đốc xuất dân kiếm vật liệu như tre, gai đi tu bổ. Người dân biết rõ ràng rào Xã, Ấp như kiểu họ đang làm là một điều vô ích, chẳng ngăn ngừa gì được Cộng Sản, nhưng phải bỏ công đi rào vì không thể không tuân lệnh.

Trên đây là một vài nét điển hình về những quốc sách kỳ công của ông Diệm.

Thời Ngô, những sự xây dựng cơ cấu dân chủ như bầu cử Quốc hội, Tổng thống là những Trò Hề. Khi chưa bỏ phiếu người dân đã biết rõ ai trúng ai trật một cách chắc chắn.

Một Dân biểu thời Ngô, người Thừa Thiên, được chỉ định ra ứng cử tại Quận Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam có cái tên mà dân chúng địa phương không biết y là đàn ông hay đàn bà vẫn đắc cử với số 99% với số phiếu. Đó là ông Lâm My Bạch Tuyết. (Dân biểu này có liên quan trong một vụ buôn gạo của Ngô Đình Cẩn cho Cộng Sản Bắc Việt, bị bắt quả tang, nhưng Tòa án không giám xử).

Dân chúng Ninh Thuận vẫn còn nhớ trong năm 1956, ứng cử viên Dân biểu đơn vị Ninh Thuận là ông Trần Trung Dung, cháu rể ông Diệm, từ chức Thứ trưởng Quốc phòng để ra ứng cử. Khi ra Ninh Thuận "tranh cử", ứng cử viên Trần Trung Dung đã được Tỉnh trưởng Ninh Thuận Hồ Trần Chánh tổ chức một cuộc tiếp rước linh đình trọng thể. Dân chúng và học sinh đứng hai bên đường từng đoàn từng đoàn từ ga Tháp Chàm về đến tỉnh lỵ Phan Rang để hoan hô ứng cử viên. Khi ông Dung bước lên diễn đàn để tuyên bố: "Ngày trước Ngô Tổng thống cai trị ở đây, ngài biết rõ dân tình ở đây nên nhờ tôi ra ứng cử ở địa phương này để có thể đạo đạt nguyện vọng nhân dân lên Tổng thống v.v..." Rồi sau đó ứng cử viên Dung được tiếp rước về nhà Công quán của Tòa Hành Chánh Ninh Thuận có lính hầu hạ canh gác trước sau. Chưa bỏ phiếu, dân Ninh Thuận đã biết chắc ông Dung sẽ đắc cử 99% số phiếu.

Ai cũng chưởi ông Thiệu độc diễn. Nhưng sự độc diễn của ông Thiệu còn thật thà hơn ông Diệm, là khi ông Diệm ứng cử nhiệm kỳ 2 (1961) có các ông Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Đình Quát dàn cảnh. Mỗi lần ông Quát, ông Truyền đọc diễn văn tranh cử trên đài không có ai nghe được gì hết vì đài bị phá. Cán bộ các ông ấy đi về các tỉnh vận động liền bị Công an tổ chức những nhóm anh chị du côn hăm dọa họ xin tý huyết. Khắp nơi, ngày bỏ phiếu họ trốn về không dám ở lại các tỉnh. Vậy mà sau khi kiểm phiếu Quận trưởng, Xã trưởng phải... chịu khó tráo sửa biên bản để Ngô Tổng thống được 95% số phiếu.

Về kinh tế, tất cả tài nguyên từ trên núi xuống bể, mọi dịch vụ tài chánh từ Quảng Trị đến Cà Mâu, thượng vàng hạ cám, đều do tay chân quyến thuộc nhà Ngô bao thầu, thao túng, chiếm đoạt khai thác. Người viết không muốn bẩn bút nhắc đến những ai trong thân tộc hoặc tay chân Ngô triều vốn là Tay trắng chỉ trong vài năm "làm kinh tài cho đoàn thể" đã trở nên triệu phú kếch xù!

Ông Diệm nói chống Cộng nhưng tất cả việc làm của Ngô triều đều bắt chước Cộng Sản. Cộng Sản bắt dân suy tôn Hồ Chí Minh thì ông Diệm cũng bắt dân suy tôn mình. Cộng Sản có Quốc Hội bù nhìn, thì ông Diệm cũng tổ chức một cái Quốc Hội nghị gật tay sai. (Quốc Hội gì mà cả một khóa họp chỉ ê a thảo luận các luật gia đình để có lợi cho bà "Đệ Nhất Phu Nhân"?) Cộng Sản có cái đảng Lao Động làm nòng cốt, Mặt Trận Cứu Quốc Liên Việt làm ngoại vi, thì ông Diệm cũng có cái Đảng Cần Lao làm cốt và Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, Tập Đoàn Công Dân, Phụ Nữ Liên Đới làm ngoại vi. Nhưng có một điều khác là Cộng Sản, từ Đảng đẻ ra chính quyền, còn ông Diệm thì có chính quyền rồi mới dùng nhân sự, phương tiện của chính quyền đẻ ra Đảng. Nên tất cả tổ chức của ông Diệm chỉ là bèo bọt, chính quyền đổ thì đảng đổ theo.

Cộng Sản độc quyền ái quốc, ai khác mình là phản động Việt gian, thì ông Diệm cũng độc quyền chống Cộng, ai khác mình là Cộng Sản phải giết! (Đã biết bao người chống Cộng, từng bị Cộng Sản giam cầm, đến khi ông Diệm cầm quyền thì hồ sơ của họ trở thành là những người hoạt động cho Cộng Sản! Biết bao đảng viên Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân một sớm một chiều hồ sơ của họ biến thành Cộng Sản di hại cho họ mãi sau khi ông Diệm đổ).

Cộng Sản có chủ thuyết Mác Xít, giai cấp đấu tranh thì ông Diệm cũng ráng nặn ra cái chủ nghĩa nhân vị nhưng hoàn toàn vô vị... (vô vị vì ngoài tay chân ông Diệm ra toàn dân có ai để ý hoặc tìm hiểu các thuyết nhân vị là gì đâu?). Cộng Sản có hiến pháp nhưng không bao giờ thực thi, thì ông Diệm cũng bắt chước mà dẫm nát lên Hiến Pháp của mình.

Tự do đi lại, hội họp, ngôn luận v.v... những quyền tối thiểu ấy có ghi trong Hiến Pháp, nhưng suốt 9 năm ông Diệm cầm quyền có bao giờ thực thi đâu?. Báo chí thời Diệm trừ tờ Thời Luận của ông Nghiêm Xuân Thiện bị đóng cửa đưa ra Tòa và tờ Tân Dân của Cụ Lộc phải đình bản, còn tất cả đều nói theo luận điệu của đài Sài Gòn. Thế cho nên bao nhiêu hành vi gian ác bất lương, tham nhũng của tay chân cán bộ nhà Ngô có bao giờ được công khai phanh phui như trong các Chính phủ khác?.

Từ xưa đến nay chưa có một vị lãnh đạo quốc gia nào làm phiền nhiễu dân chúng như ông Diệm. Mỗi lần ông Diệm đi kinh lý một tỉnh nào thì toàn dân tỉnh ấy phải chuẩn bị cơm nước từ khuya, quần áo tươm tất, đi bộ lên tỉnh để cầm cờ tung hô ông Diệm. (Gia đình nào không có lý do chính đáng mà vắng mặt sẽ bị Xã, Ấp ghi vào sổ đen rất nguy hiểm). Còn các cơ quan Hành chánh, Quân sự Tỉnh, Quận được huy động tối đa trong việc đón tiếp. Phải bố trí công an chìm nổi, phải tổ chức huấn luyện cho những người đứng gần ông Diệm thưa bẩm những gì... phải dàn cảnh sao cho xôm tụ, cho Tổng thống hài lòng. Thành thử dù nghìn lần đi kinh lý, ông Diệm chỉ thấy cái giả dối, hào nhoáng bề ngoài, làm gì biết được ẩn tình dân chúng bên trong..Thời gian ông Diệm cầm quyền ở nhiệm kỳ I, trong nước chưa có chiến tranh nhưng mọi tự do đều bị bóp nghẹt: không có giấy chứng nhận đi bầu cử thì không được ra khỏi làng để đi chợ..

Có một điều kỳ lạ tại sao ông Diệm lại bãi bỏ Lễ Tổ Hùng Vương? nhưng có người mách: điều kỳ lạ này có thể hỏi Đức Cha Cố Vấn cho ông Diệm..

Về việc kỳ thị tôn giáo, bản thân kẻ viết không muốn nhắc đến. Chỉ mong sao các tôn giáo hiện tại tâm thành Đoàn Kết trước quốc thù Cộng Sản vì tất cả các tôn giáo đều đã bị đại khủng bố ở quê nhà.. Nhưng vì có kẻ biện hộ ông Diệm đã nói: Họ chưa thấy ông Diệm ký một sắc lệnh nào nâng đỡ ưu tiên cho Công giáo hay bóp nghẹt Phật giáo mà gọi là kỳ thị?. Vụ tranh đấu Phật giáo đâu phải bất thần nổ ra từ Phật Đản 1963 mà nó đã tiềm tàng âm ỉ từ nhiều năm về trước. Thời ông Diệm tại miền Trung, mỗi tỉnh có một vị Linh mục hầu như cố vấn và giám sát Tỉnh trưởng. Những Tỉnh trưởng nào dù lương hay giáo, nếu có hành vi trái ý vị Linh mục thì rất khó tại vị. Vị linh mục sẽ đề nghị lên ông Cố vấn chỉ đạo Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (ông Ngô Đình Cẩn) có biện pháp (hoặc thuyên chuyển hoặc cách chức)..

Vì cảm thông uy quyền ngầm của các vị Linh mục, nên các Tỉnh, Quận trưởng thời nhà Ngô không có ai gan làm trái ý những yêu cầu, đề nghị của các vị Linh mục. Nhiều vùng Linh mục đi giảng đạo nơi nào, có thể yêu cầu Xã trưởng cho mượn Trụ Sở Xã, triệu tập dân xã v.v... Trong khi đó các tôn giáo khác muốn hội họp phải xin phép khó khăn. Nhiều Linh mục còn lộng hành hơn nữa là nhận đơn kiện cáo hoặc thỉnh nguyện của các con chiên, rồi phê vào đơn, đưa đến Quận trưởng bảo xử theo ý của Linh mục.

Người ta rỉ tai nhau cho biết các Cha rất có thế lực. Cứ vào Công giáo sẽ như ưu dân, sẽ được đề bạt v.v... Có nhiều Linh mục tổ chức Hội chợ, tổ chức sổ số Tombola không cần giấy phép Bộ Nội Vụ. Khi tiêu thụ Tombola, các Linh mục đã nhờ các Quận trưởng gởi cho các xã bán. Nhiều xã đã xuất công quỹ để mua Tombola ủng hộ các Cha. Người viết biết rất rõ có một nhà thờ ở một tỉnh miền Trung, do Tỉnh trưởng dùng uy quyền chiếm trên 2 mẫu đất công, ở một địa điểm tốt đẹp và lươn lẹo dùng phương tiện công quỹ của tỉnh để xây cất tòa nhà thờ đồ sộ ấy. Công việc nửa chừng thì ông Diệm đổ, viên Tỉnh trưởng bị bắt và nhà thờ xây cất nửa chừng phải bỏ dở.

Còn biết bao nhiêu tranh chấp lặt vặt phi lý như những thắng cảnh từ lâu vốn là của Phật giáo như Núi Bút Quảng Ngãi, Ngũ Hành Sơn Quảng Nam, chính quyền địa phương đã muốn giúp các linh mục thiết lập nhà thờ ở những nơi ấy nhưng đã bị Phật tử phản ứng quyết liệt.

Thời gian thuận lợi 1954-1958 bất kỳ ai cũng có thể cầm quyền làm bằng hoặc hơn ông Diệm. Không cần ông Diệm chống Pháp, Pháp cũng rút, vì Hiệp định Genève đã quy định, và vì Pháp đã ký kết với chính phủ Bảo Đại giao trả độc lập cho Việt Nam. Trước khi ông Diệm về chấp chánh đã có gần 40 nước trong thế giới Tự Do công nhận và bang giao với Việt Nam kể cả Anh, Mỹ và Tòa Thánh Vatican. Nếu nói những khó khăn của ông Diệm thời đó, thì cũng phải nói đến những thuận lợi, tiện nghi của ông Diệm trong việc tiếp thu một chính quyền có sẵn tất cả và Đất Nước Đã Chấm Dứt Chiến Tranh.

Đến đây kẻ viết muốn hỏi nhỏ quý vị đang suy tôn ông Diệm: Ông Diệm từ một đường quan Tri Huyện, lần lượt lên Quản Đạo, Tuần Vũ rồi Thượng thư Bộ Lại, nếu thật sự chống Pháp, sao đường công danh của lãnh tụ quý vị lại hanh thông như vậy? (trong thời Pháp thuộc muốn xin một chân giáo viên mà có thành tích chống Pháp bị ty Liêm Phóng (Service de Sureté phê "Avis défavorable" vào hồ sơ là đương sự xem như... "lúa", chỉ có về nhà... xua gà cho vợ). Vậy tại sao đường công danh của "chí sĩ" Ngô Đình Diệm lại lên vùn vụt?.

Việc từ quan của ông Diệm chỉ vì chống nhau với ông Phạm Quỳnh đương triều, nhưng ở đây người viết không đề cập đến vấn đề đó.

Ông Diệm tự phong mình là người thành tín quân tử, nhưng việc truất phế Bảo Đại là Đại Phản Phúc. Nếu nói chống ông Bảo Đại, thì ai cũng có quyền chống, nhưng trừ ông Diệm. Vì cha, anh ông Diệm và cả ông Diệm vốn là tôi con nhà Nguyễn. Ông Bảo Đại trên nguyên tắc đã tín nhiệm ông Diệm, đã phú thác việc nước cho ông Diệm và ông Diệm đã phục mệnh. Trước và sau khi truất phế ông Bảo Đại, ông Diệm, (qua Bộ Thông Tin) đã thuê bọn bồi bút (hầu hết báo chí thời Diệm) mở một chiến dịch dài hạn đả kích, bêu xấu, vu cáo nhục mạ ông Bảo Đại một cách tàn tệ.

Thiết nghĩ một người có lương tâm tối thiểu, không ai nỡ hành xử như thế! Cũng phải khen việc "Trưng cầu dân ý" tổ chức thật chu đáo. Đến Bà Từ Cung mà cũng bỏ phiếu truất phế ông Bảo Đại!.

Tóm lại: Ông Diệm Đã Làm Hỏng Đại Cuộc, đã sát hại nhiều phần tử quốc gia, đã tự tâm thiên vị làm hư Công giáo, đã kỳ thị khủng bố Phật giáo đã Lường Gạt Phản Bội Và Vô Cùng Tham Quyền Cố Vị. (Ông đã vận động Quốc Hội thông qua đạo luật cho ông ứng cử lần thứ 3).

Do những hành động tham nhũng, đàn áp, khủng bố đại thất nhân tâm như đã kể trên, của bộ máy chính quyền gia nô, do ông lãnh đạo, đã xô đẩy hàng hàng lớp lớp thanh niên, phụ lão, những người vốn không phải Cộng Sản đã ngã về Cộng Sản. Ông Diệm hô hào chống Cộng, độc quyền chống Cộng, cho đến đầu năm 1963 thì toàn quốc ở trong cái thế cài răng lược với Cộng Sản và ông đã tuyên bố trước đó: "Tổ Quốc Lâm Nguy!".

Sau khi ông chết, thì tay chân tôi tớ ông vẫn cầm quyền. Hậu quả của Ngô Đình Diệm để lại sau 63 là một ngôi nhà mục nát sửa sang gì cũng khó lòng đứng vững. Bàn cờ nhà Ngô đã đi bậy bạ... Khi sang tay khác đánh cờ, nếu gặp phải tay cao thủ thì còn có thể gỡ gạt..., nhưng không may, bàn cờ lại rơi vào các tay thấp như vịt, cho nên họ chỉ loay hoay lên Tướng, xuống Sĩ và giục Tốt mà thôi!

Trách Mỹ lật đổ nhà Ngô ư? Mỹ bồng nhà Ngô lên thì Mỹ lại hạ nhà Ngô xuống, có gì mà đáng trách.

Sau khi ông Diệm chết, tay chân nhà Ngô còn trong quân đội, trong chính quyền đã âm mưu phá nát thêm Quốc gia, bí mật mở cửa cho Cộng Sản thao túng vì muốn chứng tỏ: Không có "Cụ" của chúng thì tai hại thế đó. (Đây là một hiện tượng nguy hiểm cho quốc gia sau ngày Diệm đổ mà ít ai để ý). Chỉ tiếc Dương Văn Minh nhu nhược, đã lật Diệm mà chỉ lật nửa chừng, chỉ hạ cái chóp bu còn tay chân vẫn để y nguyên như cũ, sau Diệm có thể gọi là "Diemist sans Diem".

Cuộc lật đổ nhà Ngô năm 1963 đáng lý là một cuộc cách mạng vì đã nối tiếp tinh thần quật khởi chống bạo quyền của dân Việt, nối tiếp những hành động đại nghĩa hy sinh liên tục của các chiến sĩ quốc gia dưới thời Diệm trị. Ta có nên kể lại từ một thanh niên Cao Đài hành động như một Kinh Kha tại Ban Mê Thuột năm 1955, từ các sĩ quan Nhảy Dù bao vây dinh Độc Lập 1960, từ 2 phi công ưu tú Phạm Phú Quốc, Nguyễn Văn Cử bắn phá dinh Độc Lập 1962 và biết bao nhiệm vụ mưu sát bạo chúa bất thành, mà chỉ có mật vụ nhà Ngô mới biết rõ, cho đến khi Đại úy Nhung và Thiếu tá Nghĩa căm phẫn trả thù cho các đồng chí của họ.

Lật Diệm năm 1963 đáng lý là một cuộc cách mạng vì đã giải thoát hàng vạn người quốc gia trong các ngục tù trên toàn quốc, giải thoát hàng triệu nhân dân đang nghẹt thở dưới một chế độ thối nát học thói độc tài. Toàn dân đã bừng bừng phấn khởi... Nhưng hỡi ơi hương lửa cách mạng chỉ bừng lên vài ba tuần đầu rồi dần dần tắt ngủm, chỉ vì người cầm đầu Dương Văn Minh nhu nhược chỉ muốn cuộc cách mạng ấy là một binh biến hay chỉnh lý thôi.

Nhiều người bào chữa cho ông Diệm: Ông Diệm rất tốt chỉ vì tay chân ông làm sai. Lối bào chữa này e giống Cộng Sản: Hồ Chủ tịch luôn luôn sáng suốt chỉ có cấp dưới làm bậy!

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hỉ xả, uất hận bao nhiêu nhưng khi đối phương đã xuống ngựa thì sẵn sàng làm lành với nhau quên đi hết mọi lỗi lầm thù xưa oán cũ. Nhưng cây muốn lặng gió mà gió chẳng dừng, ta bất đắc dĩ khơi lại đống tro tàn để phơi bày sự thật.

Vì là chứng nhân nên chẳng muốn ẩn danh.


Lê Nguyên Long 

[Source: Khai Phóng số 7, 1981, USA]



Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.


Tìm hiểu về THINK TANK

Tìm hiểu về THINK TANK

17/11/2010

Nguyễn Hải Hoành

Viện Brookings, Think Tank
hàng đầu ở Mỹ.
Người ta cho rằng, tỷ lệ quyết sách sai lầm tại các nước phát triển ở phương Tây khá thấp, đó là do phương Tây tận dụng được các Think Tank, một loại hình tổ chức có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.

Think Tank là gì?

Think Tank là tên gọi một loại hình tổ chức tập họp các chuyên viên nhiều chuyên ngành nhằm nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao... , cuối cùng đưa ra các lý thuyết, sách lược, ý tưởng, giải pháp... có tính chất tư vấn hiến kế cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia.

Franklin Collbohm, sáng lập viên công ty RAND (Think Tank xếp hạng thứ 4 ở Mỹ, có 1600 nhân viên), định nghĩa Think Tank là "Nhà máy ý tưởng", là trung tâm tư tưởng chiến lược dám thách thức và coi thường mọi uy quyền, dám vượt qua mọi trí tuệ hiện có. 

Theo định nghĩa chặt chẽ thì Think Tank là tổ chức dân lập, hoạt động độc lập với chính quyền. Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định. Các kết quả này thông thường được công bố trên các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông và các hình thức trao đổi thông tin khác nhằm tranh thủ sự tán thành của công chúng và sự chú ý của lãnh đạo quốc gia.

Chức năng chính của Think Tank là: - đề xuất ý tưởng; - giáo dục, hướng dẫn dư luận; - tập hợp nhân tài.

Trong tiếng Anh Think là suy nghĩ, ý nghĩ, ý tưởng, tư tưởng, Tank là cái thùng (bồn, vựa, chậu), còn có nghĩa là xe tăng. Trung Quốc dịch Think Tank là Túi tri thức ("trí nang đoàn") hoặc Kho trí thức ("trí khố"). Ở ta có người dịch là "Kho Tư tưởng (Ý tưởng)", "Kho Trí tuệ (Trí thức)", "Vựa (Bồn) Trí tuệ", "Nhóm chuyên viên (hoặc Tổ chức) tư vấn"... Nhận thấy tất cả các từ dịch kể trên đều chưa quen với bạn đọc và hơi dài, vả lại hiện chưa có một từ Việt tương đương được nhất trí thừa nhận, cho nên chúng tôi xin tạm dùng Think Tank như một danh từ tiếng Việt (viết hoa, không có số nhiều). Người Nhật cũng dùng nguyên từ Think Tank phiên âm ra tiếng Nhật.



Tình hình Think Tank trên thế giới

Think Tank xuất hiện ở phương Tây đã lâu, nhưng ở Việt Nam thì khái niệm này còn mới lạ, vì thế thiết nghĩ việc giới thiệu về Think Tank là cần thiết.

Theo một báo cáo công bố đầu năm 2009 của ĐH Pennsylvania, kết quả điều tra 169 nước trên thế giới năm 2008 có tổng cộng 5.465 Think Tank; trong đó Bắc Mỹ và Tây Âu có 3080 (chiếm 56,35%, riêng Bắc Mỹ có 1872), châu Á có 653 (11,95%), Đông Âu có 514, châu Mỹ La-tinh và vùng Caribe – 538, châu Phi vùng hạ Sahara – 424, Trung Đông và Bắc Phi – 218, châu Đại dương – 38.

Nước có nhiều Think Tank nhất là Mỹ – 1.777, rồi đến Anh – 253, Đức – 186. Tại châu Á, Ấn Độ có nhiều Think Tank nhất – 121, thứ nhì là Nhật – 105. Theo báo cáo trên, Trung Quốc hiện có 74 Think Tank theo nghĩa rộng; nhưng các học giả Trung Quốc đánh giá nước họ thực sự chưa có Think Tank đúng nghĩa.

Xếp hạng các Think Tank trên thế giới

Dưới đây là một số trích dẫn bảng xếp hạng các Think Tank toàn cầu [1]. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi để nguyên tên tiếng Anh không dịch.

Xếp hạng Top 10 Think Tank của Mỹ như sau:
1. Brookings Institution
2. Carnegie Endowment for International Peace
3. Rand Corporation
5. Heritage Foundation
6. Woodrow Wilson International Center for Scholars
7. Center for Strategic & International Studies
8. American Enterprise Institute
9. Cato Institute
10. Hoover Institution

Xếp hạng Top 10 Think Tank của các nước ngoài Mỹ như sau:
1. Chatham House (tức Royal Institute of International Affairs, thành lập năm 1920 tại Anh)
2. International Institute for Strategic Studies (Anh)
3. Stockholm International Peace Research Institute (Thụy Điển)
4. Overseas Development Institute (Anh)
5. Centre for European Policy Studies (Bỉ)
6. Transparency International (Đức)
7. German Council on Foreign Relations (Đức)
8. German Institute for International and Security Affairs (Đức)
9. French Institute of International Relations (Pháp)
10. Adam Smith Institute (Anh)

Xếp hạng Top 5 Think Tank của châu Á:
1. Chinese Academy of Social Sciences (Viện Khoa học xã hội Trung Quốc)
2. Japan Institute of International Affairs (Nhật)
3. Institute for Defence Studies and Analyses (Ấn Độ)
4. Centre for Strategic and International Studies (Indonesia)
5. Institute for International Policy Studies (Nhật)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực an ninh và quan hệ quốc tế:
1.    Brookings Institution (Mỹ)
2.    Chatham House (Anh)
3.    Carnegie Endowment for International Peace (Mỹ)
4.    Council on Foreign Relations (Mỹ)
5.    International Institute for Strategic Studies (Anh)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực phát triển quốc tế:
1.    Brookings Institution (Mỹ)
2.    Overseas Development Institute (Anh)
3.    Council on Foreign Relations (Mỹ)
4.    Rand Corporation (Mỹ)
5.    Woodrow Wilson International Center for Scholars (Mỹ)

Xếp hạng Top 5 Think Tank thuộc lĩnh vực chính sách kinh tế quốc tế:
1.    Brookings Institution (Mỹ)
2.    Peterson Institute for International Economics (Mỹ)
3.    Fraser Institute (Canada)
4.    National Bureau of Economic Research (Mỹ)
5.    Adam Smith Institute (Anh)


Có thể thấy Viện Brookings đứng đầu cả 3 nhóm nói trên. Viện này thành lập năm 1916, có ngân sách năm 60,7 triệu USD, chuyên nghiên cứu về chính sách đối ngoại và vấn đề Trung Đông. Một số nhân vật tiêu biểu của Viện như Strobe Talbott (từng là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ), Kenneth Pollact, Alice Rivlin.

Think Tank có quy mô lớn nhất là Công ty Rand, với 1.600 nhân viên, ngân sách 251 triệu USD, chuyên nghiên cứu chiến lược quân sự, các vấn đề kinh tế chính trị. Một số nhân vật tiêu biểu của Rand là James Dobbins, Gregory Treverton, William Overholt.

Mỹ là nước có hệ thống Think Tank phát triển nhanh nhất thế giới, từ 1980 tới nay số Think Tank nước này tăng gấp đôi. Riêng tại Washington đã có trụ sở của khoảng 350 Think Tank, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác. Tại thủ đô Mỹ có một đường phố tập trung rất nhiều Think Tank. Từ thập niên 70 trở đi không chính khách nào có ý định làm chủ Nhà Trắng mà không nhờ vả một Think Tank làm tư vấn. Vì vậy sau khi tân Tổng thống nhậm chức, không ít cán bộ của Think Tank đó được giao các trọng trách trong chính phủ. Khi Tổng thống hết nhiệm kỳ, họ lại về Think Tank cũ làm việc. Vì thế các Think Tank nghiễm nhiên trở thành nơi tập hợp nhân tài, chính khách. Think Tank rất cần cộng tác viên và bạn đọc. Chẳng hạn nếu bạn vào website của Think Tank STRATFOR, họ sẽ liên tục gửi bài cho bạn. Người sáng lập và lãnh đạo STRATFOR là George Friedman mới đây đưa ra một dự báo thế giới thế kỷ XXI rất độc đáo (coi Nhật, chứ không phải Trung Quốc, là đối thủ số 1 của Mỹ ở châu Á...).


Tại sao cần Think Tank?

Think Tank xuất hiện là do nhu cầu của thời đại. Thời đại càng tiến lên, các vấn đề cần xử lý ngày một nhiều, tới mức hệ thống nghiên cứu-tư vấn của nhà nước không thể xử lý hết. Thực tế cho thấy hệ thống này thường có mặt hạn chế, chủ yếu do bị chi phối bởi quan điểm của nhà nước nên thiếu tính khách quan. Ngoài ra sự phát triển tất yếu của xã hội dân sự dẫn tới xu hướng "chính phủ nhỏ, xã hội lớn" dần dần thay thế bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả. Theo đà phát triển kinh tế và giáo dục, hệ thống doanh nghiệp, trường đại học và giới trí thức ngày càng lớn mạnh, trong xã hội tự xuất hiện nhiều cá nhân và đoàn thể có nguyện vọng cải tiến các quyết sách của đất nước.

Có người nói Công ty Đông Ấn [2] do người Hà Lan Cornelis de Houtman thành lập năm 1602 vừa là công ty xuyên quốc gia đầu tiên vừa là Think Tank đầu tiên trên thế giới nghiên cứu đưa ra phương thức độc quyền thương mại giúp Hà Lan khai thác hệ thống thuộc địa.

Từ sau Thế chiến II, giới trí thức phương Tây nhận thấy trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, mỗi quốc gia muốn tiến nhanh thì phải hết sức hạn chế các quyết sách sai lầm. Thế nhưng không chính phủ nào tránh được sai lầm trong khi đưa ra các quyết định chiến lược trên mọi lĩnh vực. Nguyên nhân gây ra sai lầm là do sự chủ quan, thiếu toàn diện của cơ quan quyết sách (ban lãnh đạo và các cơ quan nghiên cứu-tư vấn của họ). Nếu biết tranh thủ nghe ngóng, tiếp thu ý kiến tư vấn của bên thứ ba – các cá nhân hoặc tổ chức tư vấn độc lập với nhà nước (tức Think Tank), thì mức độ phạm sai lầm sẽ giảm đáng kể.

Xã hội phương Tây từ rất sớm đã có nhiều cá nhân (điển hình là giáo sư các trường đại học) hoặc tổ chức, đoàn thể tiến hành nghiên cứu các vấn đề chiến lược của nước mình hoặc thế giới; do độc lập với nhà nước nên họ có khả năng xem xét vấn đề một cách khách quan, toàn diện và đưa ra các giải pháp, chủ trương hợp lý. Chính vì thế, từ sau Thế chiến II, các Think Tank bắt đầu mọc lên như nấm ở phương Tây; trong thực tế các tổ chức này đã có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc ấn định các quyết sách của nhà nước hoặc chính đảng, của các ứng viên nghị sĩ quốc hội hoặc ứng viên Tổng thống. Do thấy được lợi ích to lớn của các tổ chức này nên chính phủ và doanh nghiệp, kể cả các đoàn thể xã hội và cá nhân đã ra sức khuyến khích thành lập và cung cấp kinh phí cho các Think Tank.

Nước Mỹ dựng nước mới hơn 200 năm đã trở thành cường quốc số một thế giới về mọi mặt, điều đó chứng tỏ họ rất ít mắc các sai lầm chiến lược lớn. Ở đây có một nguyên nhân là lãnh đạo nước này xưa nay bao giờ cũng chú ý lắng nghe ý kiến của dân, nhất là các nhà trí thức độc lập với chính phủ. Hệ thống Think Tank ở Mỹ phát triển nhanh nhất, mạnh nhất đã góp phần cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng các chủ trương chiến lược lớn của nước này.

Giáo sư Mao Chiêu Huy ở Học viện Quản lý công (thuộc trường ĐH Nhân dân Trung Quốc) nhận xét: tỷ lệ quyết sách sai lầm của Trung Quốc là 30%, còn tại các nước phát triển ở phương Tây tỷ lệ này chỉ có khoảng 5%, đó là do phương Tây ra sức tận dụng các Think Tank.

Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc nói lãng phí lớn nhất của Trung Quốc là do các sai lầm quyết sách chiến lược gây ra. Thực tế cho thấy các chiến lược "Đại Nhảy Vọt", "Công xã nhân dân" cuối thập niên 50 đã dẫn tới hậu quả nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, hàng chục triệu dân "chết không bình thường", nói trắng ra là chết đói vì nông dân phải đi "luyện gang thép" và làm các "công trình hinh ảnh" mà bỏ mặc ruộng đồng không ai làm. Ngân hàng Thế giới đánh giá trong thời gian kế hoạch 5 năm lần thứ 7 đến kế hoạch 5 năm lần thứ 9, các sai lầm về quyết sách đầu tư của Trung Quốc gây thiệt hại kinh tế ước khoảng từ 400 đến 500 tỷ Nhân dân tệ.

Hầu hết các sai lầm đó là do lãnh đạo cao nhất gây ra. Họ xem xét mọi vấn đề theo cảm tính cá nhân, thích cái gì thì "quyết", bản thân suy nghĩ trong vài ngày là xong, không giao cho một cơ quan tư vấn nào nghiên cứu, cũng không hỏi ý kiến các nhà chuyên môn, hoặc có hỏi nhưng giới chuyên môn sợ mất lòng cấp trên nên không dám nói thật. Điển hình nhất là "Thời gian biểu vượt Anh đuổi Mỹ" do Mao Trạch Đông đưa ra: ngày 15/4/1958 ông nói Trung Quốc cần "10 năm đuổi kịp Anh, 20 năm đuổi kịp Mỹ"; một tháng sau ông quyết định "7 năm đuổi kịp Anh, thêm 8~10 năm nữa đuổi kịp Mỹ"; ngày 22/6/1958 ông lại quyết: "2~3 năm đuổi kịp Anh".

Từ ngày cải cách mở cửa, lãnh đạo Trung Quốc đã hết sức quan tâm xây dựng các Think Tank và thường xuyên lắng nghe ý kiến của họ. Sự quan tâm đó thể hiện ở chỗ Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Think Tank toàn cầu 2009.

Việt Nam ta từng có một số quyết sách sai lầm trên một số mặt, nhưng đáng tiếc là vấn đề này chưa được cơ quan nào nghiên cứu, thống kê, phân tích và công bố, trong khi ta lại nói quá nhiều về những thành tựu. Cách làm này chỉ làm cùn trí tuệ của các nhà hoạch định chiến lược và lãng phí trí tuệ xã hội. Gần đây dư luận đã bắt đầu lên tiếng tuy còn dè dặt về một số chủ trương kinh tế đã hoặc sẽ gây thiệt hại. Cho dù ta còn chưa có Think Tank đúng nghĩa, nhưng thử hỏi hệ thống cơ quan nghiên cứu nhà nước (các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học...) đã có vai trò gì trong việc đưa ra những quyết sách kinh tế lớn. Nếu biết tận dụng hệ thống cơ quan tư vấn và biết coi trọng xây dựng hệ thống Think Tank thì chắc chắn đã có thể tránh được nhiều sai lầm đáng tiếc.

Đầu thập niên 50 thế kỷ XX, trước khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên, một Think Tank nổi tiếng ở Mỹ là Công ty RAND khi nghiên cứu vấn đề "Trung Quốc có thể đưa quân sang Triều Tiên hay không" đã đi tới kết luận Trung Quốc sẽ đưa quân sang giúp Triều Tiên chống Mỹ. RAND rao bán bản báo cáo nghiên cứu này cho Phòng Nghiên cứu chính sách Trung Quốc của chính phủ Mỹ với giá 2 triệu đô-la (bằng giá một máy bay chiến đấu hồi ấy), nhưng bị từ chối. Sau đấy quả nhiên Trung Quốc đưa Quân Chí nguyện sang Triều Tiên; phía Mỹ do không có chuẩn bị trước về vấn đề này nên bị thiệt hại lớn. Tư lệnh quân đội Mỹ trên chiến trường Triều Tiên là MacArthur lúc này mới thấy hối tiếc là đã bỏ mất một quyết sách quý giá được RAND nghiên cứu chu đáo, có cơ sở thực tế.
 
N. H. H.


Người Quốc Gia là những người đặt Tổ Quốc lên bản vị tối cao, tối cao có nghĩa là trên tất cả mọi vật, kể cả tôn giáo, đảng phái, và cả chính bản thân mình.