17 June 2014

Nhật Ký Biển Đông: Rút Giàn Khoan hay Ở Lì?

Nhật Ký Biển Đông: Rút Giàn Khoan hay Ở Lì?

Nhật Ký Biển Đông trung tuần Tháng 6 ghi nhận những chuyển biến quan trọng như sau:

-Reuters (Hà Nội/Manila) ngày 8/6/2014: Binh sĩ Phi Luật Tân và Việt Nam đá bóng, chơi bóng chuyền và uống bia trên Đảo Song Tử Tây để bày tỏ thiện chí hòa bình, hợp tác. Phi Luật Tân và Việt Nam hiện đang có tranh chấp về một số hòn đảo thuộc Quần Đảo Trường Sa. Đảo Song Tử Đông năm 1975 do Phi Luật Tân chiếm đóng nhưng bị binh sĩ Miền Nam chiếm khi viên chỉ huy đảo này cùng binh sĩ chèo thuyền sang chơi một đảo bên cạnh cách đó vài hải lý. Theo tin từ Việt Nam, một tuần dương hạm trang bị hỏa tiễn đạn đạo của Việt Nam sẽ viếng Manila, Phi Luật Tân một ngày gần đây.

-BBC tiếng Việt ngày 9/6/2014: Phát ngôn viên Trung Quốc gọi sự kiện giao hữu thể thao giữa Việt Nam và Philippines hôm Chủ nhật 08/06 trên đảo Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa là "hài kịch vụng về".

-RFI tiếng Việt ngày 9/6/2014: Trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhật báo South China Morning Post số ra ngày 06/06/2014 cho biết nhiều doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc được chỉ đạo cấm tham gia đấu thầu các dự án mới tại Việt Nam. Theo quan điểm của một chuyên gia khác thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, tác động của các biện pháp trừng phạt kinh tế sẽ không đáng kể : Trung Quốc không thể đe dọa sự phát triển của Việt Nam do trọng lượng của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam là quá nhỏ và cho dù có tham gia đấu thầu vào các dự án mới, trong bối cảnh hiện nay, chưa chắc các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc có cơ hội thắng thầu.

-Tuổi Trẻ Online ngày 9/6/2014: Trong chuyến viếng thăm Việt Nam ngày 9/6/2014, thủ tướng Ý Đại Lợi Matteo Renzi cho biết là một thành viên trong Liên Hiệp Châu Âu cũng như trong nhóm G7, Ý bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình biển Đông hiện nay và kêu gọi các bên kiềm chế, giải quyết xung đột trong hòa bình.

-VOA tiếng Việt ngày 9/6/2014: Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jen Psaki nói: "Chúng tôi khuyến khích các bên tiếp tục đối thoại với nhau, nhưng chúng tôi sẽ không góp ý về việc phán đoán vị trí và ý nghĩa của vị trí đó". Bình luận về tuyên bố này, chuyên gia phân tích của Viện Kinh Doanh Mỹ Michael Auslin nói điều đó đặt chính quyền Obama vào một thế bất lợi. "Khi chính quyền đi đến chỗ nói rằng sẽ không xác định liệu vùng nước này có thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hay không, thì có nghĩa là ta đã tiến một bước rất lớn hướng tới việc tự ý từ khước không có tiếng nói nào có thể có trong tình huống này." Còn GS. Hillary Mann Leverett thuộc American University nói nó gây phương hại cho cái được gọi là sự xoay trục các nguồn lực quân sự và ngoại giao của Hoa Kỳ qua châu Á.Trong khi đó Việt Nam kêu gọi  Hoa Kỳ đóng một vai trò lớn hơn trong việc giải quyết các tranh chấp về lãnh hải với Trung Quốc.

-AP ngày 9/6/2014: Trung Quốc gửi thư lên tổng thư ký LHQ tố "Việt Nam đâm va tàu Trung Quốc cả nghìn lần tại nơi đặt giàn khoan mà Trung Quốc nói là vùng thuộc chủ quyền của họ và Trung Quốc muốn có quan hệ tốt với láng giềng." Thư khiếu nại còn nói, "Việt Nam điều người nhái cùng đặc vụ hoạt động dưới nước đến khu vực gần giàn khoan và đã thả rất nhiều chướng ngại vật, gồm lưới đánh cá và vật trôi nổi tại vùng biển này".

-Reuters, Beijing: Vào ngày Thứ Ba 10/6/2014 , Trung Quốc tuyên bố sẽ đáp trả sự "vu cáo" của Việt Nam cho thế giới biết về những gì đang xảy ra tại nơi đang tranh chấp tại Bỉển Đông sau khi đã gửi thư tới Liên Hiệp Quốc. Theo Voice of Russia, "Việc đệ trình công hàm tại Liên Hợp Quốc chính là nỗ lực giải thích. Đó có thể là bước đầu tiên tiến tới mở đầu đàm phán một nội dung rất quan trọng. Những xung đột như vậy cần được giải quyết bằng đàm phán và sự nhượng bộ lẫn nhau."

-VOV ngày 10/6/2014:  Dân Biểu Randy Forbes, Chủ tịch Tiểu ban triển khai lực lượng và sức mạnh biển thuộc Uỷ ban Quân lực Hạ viện Mỹ đưa ra khi trả lời phỏng vấn tạp chí National Interest của Mỹ, " Khả năng xảy ra khủng hoảng và thậm chí xung đột tại châu Á-Thái Bình Dương trở nên rõ nét khi Trung Quốc có thể thay đổi cán cân quân sự, áp dụng các biện pháp cưỡng ép bằng công cụ quân sự và phi quân sự. Các nước láng giềng của Trung Quốc, từ Nhật Bản cho đến Philippines và Việt Nam đều đang chờ đợi một tín hiệu rõ ràng về quyết tâm của Mỹ trong việc duy trì hiện trạng khu vực, nơi tự do hàng hải được tôn trọng, các tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình." Dân Biểu Forbes cho rằng Mỹ đang thiếu một chiến lược khu vực để ngăn chặn sự cứng rắn ngày càng leo thang của Trung Quốc.

-NLĐ Online ngày 10/6/2014:  Chủ tọa cuộc họp báo từ Rangoon (Myanmar) với phần lớn các câu hỏi xoay quanh căng thẳng leo thang trên Biển Đông, Phụ Tá Ngọai Trưởng Hoa Kỳ đặc trách Đông Á Thái Bình Dương Daniel Russel đề nghị:  "Cả Trung Quốc và Việt Nam cần rút toàn bộ đội tàu của mình. Trung Quốc phải rút giàn khoan. Chúng tôi không khẳng định ai đúng ai sai nhưng việc rút giàn khoan sẽ tạo cơ hội cho tiến trình ngoại giao để giải quyết căng thẳng".

-PetroTimes ngày 10/4/2014: "Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Charles Jose hôm nay (10/6) đã lên tiếng xác nhận việc Indonesia đề xuất một cuộc họp đặc biệt giữa các bộ trưởng ngoại giao của ASEAN, để thảo luận về căng thẳng gia tăng trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông."

-Reuters/Tokyo ngày 11/6/2014: Bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản phản đối việc phi cơ chiến đấu Trung Quốc bay sát như muốn đụng vào máy bay Nhật và yêu cầu Trung Quốc cư xử có đạo đức hơn. Nhưng vào ngày 12/6/2104 Trung Quốc phủ nhận sự kiện này cũng giống như Trung Quốc phủ nhận việc đem tàu chiến để bảo vệ giàn khoan Haiyang 981.

-BBC tiếng Việt ngày 11/6/2014: Trả lời hãng thông tấn Mỹ AP hôm thứ Ba ngày 10/6, Đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc Lê Hoài Trung kêu gọi Trung Quốc dời giàn khoan và hơn 100 tàu ra khỏi khu vực đang đóng để tạo 'môi trường đàm phán'.Tuy nhiên Đại sứ Trung cho biết Bắc Kinh từ chối đối thoại và một mực nói rằng vùng biển đặt giàn khoan không có tranh chấp gì cả và hoàn toàn thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

-BBC tiếng Việt ngày 11/6/2014: Một nhóm đại biểu của quân đội Thái Lan đã tới Trung Quốc hôm thứ Tư 11/06 để bàn về an ninh khu vực và tập trận chung với đồng minh lâu năm trong lúc Phương Tây tỏ ra không mấy thoải mái trước cuộc đảo chính của quân đội hồi tháng trước.

-Tiền Phong Online ngày 12/6/2014: Phát ngôn viên Edwin Lacierda của Tổng thống Philippines nói rằng, những dự án đầu tư của Trung Quốc sẽ không ngăn cản được Manila theo đuổi vụ kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

-RFI ngày 13/6/2014: Hôm qua, 12/06/2014 phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc đã chỉ trích việc Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Nhật Bản thông qua một nghị quyết  lên án các hoạt động khoan dầu của Trung Quốc tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa, mà Bắc Kinh gọi là Tây Sa.

-VOV ngày 14/6/2014: Tuy thời tiết xấu nhưng Trung Quốc vẫn duy trì hơn 70 tàu các loại gồm tàu hải cảnh, tàu hải giám, tàu kéo và các tàu dịch vụ hậu cần quanh giàn khoan Hải Dương 981.

-AFP ngày 15/6/2014: Trung Quốc đang cho xây thêm trường học trên Quần Đảo Hoàng Sa cho 40 học sinh mà cha mẹ làm việc trên đảo. Công trình sẽ hoàn tất khoảng một năm rưỡi.


Nhận Định:

Đúng như nhận xét của các nhà nghiên cứu chiến lược, cứ mỗi lần Trung Quốc phản ứng mạnh là Mỹ lại tìm cách xoa dịu. Tại Đối Thọai Shangri-La cách đây hai tuần lễ, bộ trưởng quốc phòng  Chuck Hagel đã nói rất mạnh qua ba điểm.
- Trung Quốc có "những hành động gây bất ổn" ở Biển Đông.
- Washington nhất định "không ngoảnh mặt làm ngơ" nếu trật tự quốc tế bị đe dọa.
-Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ cho Nhật Bản trong kế họach "Phòng Thủ Tập Thể" ở Đông Nam Á

Qua ba điểm này chúng ta thấy Hoa Kỳ đang cùng Nhật Bản dàn trận để đối đầu với Trung Quốc chứ chẳng phải "tái cân bằng lực lượng" mà thôi.

Thế nhưng khi tướng Vương Quán Trung của Trung Quốc phản ứng, "Nếu Hoa Kỳ coi Trung Quốc là kẻ thù thì Trung Quốc chắc chắn coi Hoa Kỳ như kẻ thù của Trung Quốc." thì chỉ vài ngày sau Hoa Kỳ lại dịu giọng. Lời tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jen Psaki,  "Chúng tôi khuyến khích các bên tiếp tục đối thoại với nhau, nhưng chúng tôi sẽ không góp ý về việc phán đoán vị trí và ý nghĩa của vị trí đó" đã chứng minh điều đó. Xin thưa giàn khoan Haiyang 981 hoàn tòan nằm trong lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam dù lấy dấu mốc là Tri Tôn hay Đảo Lý Sơn. Một vị trí nhỏ trên Hỏa Tinh mà Hoa Kỳ còn biết, tại sao Hoàng Sa- nơi mà Hoa Kỳ đã ra vào như cơm bữa và cùng VNCH trấn giữ khoảng 20 năm mà lại nói là "chưa phán đoán được nó nằm ở đâu và chủ quyền thuộc về ai?". Nó chẳng khác nào một cặp vợ chồng sống với nhau đã 20 năm với khoảng 5,6 mặt con. Nguời chồng đi xa khoảng ba năm, quay về nhà cũ mà người vợ cứ nằng nặc nói, "tôi không biết ông này là ai!" thì quả thật "Trời cao có thấu!" Chính vì thế mà sau Chiến Tranh Việt Nam, thế giới đã học được bài học là "đi" với Mỹ có ngày Mỹ quay mặt, bỏ rơi không thương tiếc. Dầu sao thì sự kiện trên chứng tỏ Mỹ đang lo sợ một cuộc đối đầu trực tiếp với Hoa Lục - ngay bây giờ thì chưa dám, nhưng để lâu thì kinh khủng quá vì lúc đó Trung Quốc mạnh gấp bội, cho nên lúc nào cũng lúng túng.

Kể từ năm 1949 sau khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc đánh bật Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch ra  Đài Loan, chính sách  của Hoa Kỳ đối với Hoa Lục là: Ngăn chặn, be bờ và thỏa hiệp chứ không bao giờ chủ trương đối đầu - tức mở một cuộc chiến tranh với Hoa Lục bởi vì tiến hành chiến tranh với Hoa Lục có nghĩa là "hai bên cùng chết" (Mutual Vulnerability). Đó là sự trớ trêu, nghiệt ngã của lịch sử - hiện tại cũng như tương lai của nước Mỹ.

Chính vì thấy sức mạnh của Hoa Lục ghê gớm quá - cả về quân sự lẫn thương mại mà lại ở gần kề, dủ có "đi" với Mỹ nhưng "Nước xa không cứu được lửa gần" (*) cho nên một số nước theo chính sách "trung lập" như Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Lào, Kampuchia, Brunei. Một số nước thấy thảm họa lù lù (looming) trước mắt đã hợp tác để Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc, nhưng lấy sức mình là chính như Việt Nam, Indonesia, Singapore. Còn Phi Luật Tân thì hoàn toàn nương tựa vào Hoa Kỳ.

Việc Trung Quốc gửi văn thư tới Liên Hiệp Quốc hiện đang tạo chú ý trên thế giới. Có thể chuyển động này nhằm hai dự tính:

Thứ nhất: Đây là chiến thuật chống đỡ với dư luận thế giới đang vô cùng bất lợi cho Trung Quốc. Với chuyển động này, Trung Quốc thấy it ra mình cũng có một văn thư trình bày vấn đề chứ im lặng tức đuối lý. Dĩ nhiên LHQ không phải cơ quan tài phán. Sau khi phổ biến công hàm tới các nước hội viên, LHQ cũng chẳng làm gì hơn. Sau khi trình công hàm rồi, Trung Quốc có thể giải thích rằng "lẽ phải" ở về phía chúng tôi và giàn khoan vẫn cứ đứng yên tại chỗ. Với ưu thế về sức mạnh, nếu cuộc giằng co kéo dài vài ba năm,Việt Nam không thể trục giàn khoan đi. Như thế giàn khoan theo thời gian là một thứ "de facto" và thế giới cũng chẳng làm được gì hơn ngòai việc "quan tâm" và cảnh báo, kể cả Mỹ.  

Thứ hai: Nếu Việt Nam cứ kiên trì bám biển và tăng cường số tàu Cảnh Sát Biển và Kiểm Ngư thì tình hình mỗi lúc mỗi căng thẳng thêm. Cộng thêm với sự vận động ngọai giao của Việt Nam, uy tín của Trung Quốc mỗi lúc mỗi giảm sút và vô cùng bất lợi trên trường quốc tế.  Chắc chắn Trung Quốc không thể dồn hết sức mình để cứ phải dai dẳng đối phó với Việt Nam trong khi Trung Quốc "mộng lớn chưa thành" và hiện đang có quá nhiều kẻ thù tiềm tàng như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Phi Luật Tân và rồi sẽ là Indonesia. Có thể đây là một chuyển động nhằm rút giàn khoan và thương thảo với Việt Nam đúng như nhận định của Voice of Russia, "Việc đệ trình công hàm tại Liên Hợp Quốc chính là nỗ lực giải thích. Đó có thể là bước đầu tiên tiến tới mở đầu đàm phán một nội dung rất quan trọng. Những xung đột như vậy cần được giải quyết bằng đàm phán và sự nhượng bộ lẫn nhau." Tuy nhiên nếu đơn phương rút giàn khoan thì Trung Quốc mất mặt. Do đó cần phải có trung gian. Một trung gian nếu có thì ở đây không ai khác hơn là Nga vì Nga có liên hệ ngọai giao tốt với Việt Nam lẫn Trung Quốc. Một trung gian khác cũng có thể là Mỹ theo như đề nghị của Phụ Tá Ngọai Trưởng Daniel Russel: Việt Nam rút tàu và Trung Quốc rút giàn khoan. Hiện nay Việt Nam chủ trương Trung Quốc rút giàn khoan trước, đàm phán sau và không chấp nhận điều kiện tiên quyết. Những điều kiện tiên quyết của Trung Quốc có thể là:
-Tôi rút giàn khoan đi, anh hứa không được hợp tác với Nhật và Mỹ để kiềm chế tôi.
-Tôi rút giàn khoan đi anh hứa không kiện tôi ra Tòa Án Quốc Tế về Luật Biển.
-Tôi rút giàn khoan đi anh phải công nhận chủ quyền của tôi tại Trường Sa và Hoàng Sa.
-Tôi rút giàn khoan đi anh hứa không hợp tác với ASEAN  hoặc Phi Luật Tân để phá đám tôi.
            
Tất cả những điều kiện tiên quyết hoặc "hứa" nói ở trên đều là giây thòng lọng thắt cổ. Điều kiện tiên quyết hay nhất mà Việt Nam có thể đặt ra cho Trung Quốc là: Anh phải tuyên bố hủy bỏ Đường Lưỡi Bò và công nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai Quần Đào Hoàng Sa & Trường Sa. Tất cả mấu chốt ở chỗ đó và chỉ bấy nhiêu thôi.  Nguyên do: Chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc thì bất khả tương nhượng.

Tình hình Biển Đông diễn biến vô cùng phức tạp, quả  bóng đang nằm trong chân Trung Quốc. Nếu Trung Quốc chủ trương hòa dịu, Đông Nam Á tạm yên ổn, nhưng phải tiếp tục chạy đua vũ trang để ngăn ngừa thảm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nếu Trung Quốc cứ lấn tới, Mỹ có thể bất động nhưng Nhật Bản chắc chắn không chịu ngồi yên và xung đột vũ trang có thể xảy ra. Hiện nay ngọai trưởng Indonesia đang đề nghị một hội nghị bao gồm ngọai trưởng các nước Đông Nam Á bàn về căng thẳng mỗi lúc gia tăng ở Biển Đông. Nếu một hội nghị như vậy hình thành, chắc chắn sẽ tạo áp lực rất lớn lên Bắc Kinh. Chúng ta chờ xem Bắc Kinh đi những bước gì trong những ngày sắp tới. Hiện nay Trung Quốc đang rất e ngại Ô. Modi vừa tuyên thệ nhậm chức thủ tướng Ấn Độ vì lập trường cứng rắn với Trung Quốc, nên đã vội vã cử bộ trưởng ngoại giao Vương Nghị tới New Delhi để ve vãn. Nếu Ấn Độ tiếp tục tăng cường binh sĩ tại vùng biên giới Hy Mã Lạp Sơn, tiếp tục hợp tác quốc phòng và thăm dò dầu khí với Việt Nam, cộng thêm với sự can dự mạnh mẽ của Nhật Bản thì Trung Quốc không thể tự tung tự tác ở Biển Đông. Ngày 14/6/2014 vừa qua Ô. Modi đã tới thị sát (**) tàu sân bay lớn nhất của Ấn Độ INS Vikramaditya ở ngoài khơi bờ biển Tiểu Bang Goa cho thấy ông này là dân "diều hâu" giống như Thủ Tướng Abe của Nhật Bản chứ chẳng phải chơi./-


Đào Văn Bình
(California ngày 15/6/2014)

(*) Câu này có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc: Mình là nước nhỏ, gần một đại cường nếu nó đánh mình, dù có liên minh với một đại cường khác ở xa thì cũng chẳng cứu được vì "Nhà mình ở Thái Lan đang cháy nhưng xe cứu hỏa ở mãi tận bên Mỹ thì làm sao dập tắt được lửa đây?"
(**) Là lãnh đạo của một đất nước mà đi thị sát một tàu ngầm, hàng không mẫu hạm, xưởng đóng tầu chiến v.v... giống như Ô. Abe ngồi trên chiếc xe tăng tối tân của Nhật Bản rồi chụp hình cho cả thế giới biết…là dấu hiệu đất nước chuẩn bị đối đầu với một cường địch chứ chẳng phải chơi.

11 June 2014

7 yếu tố căn bản đưa đến sự thất bại của Ngô Đình Diệm

7 yếu tố căn bản đưa đến sự thất bại của Ngô Đình Diệm

Sinh ra trong một gia đình theo đạo Công Giáo nhiều đời và lớn lên trong hòan cảnh đất nước bị ngọai xâm, hai yếu tố cơ bản và then chốt đó đã tác động sâu đậm lên con người và cuộc đời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Làm quan dưới thời Nguyễn mạt, Ngô Đình Diệm thất bại trong việc tranh dành ảnh hưởng với Phạm Quỳnh nên từ chức Thượng Thư Bộ Lại năm 1933. Từ đó ông có một cuộc sống không cố định mà phần nhiều là ở ngọai quốc.

Từ sau nữa năm 1950, ông Diệm đi Nhật Bản gặp Kỳ Ngọai Hầu Cường Để là một chuyện phụ nhưng thực ra là để gặp một cựu sĩ quan tình báo Mỹ là ông Wesley Fishel, rồi đến Vatican yết kiến Giáo Hoàng Pius XII, người nỗi tiếng vì đã từng thúc đẩy chính Phủ Hoa Kỳ thả từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử xuống Bắc Việt để giải cứu quân Pháp bị quân Việt Minh bao vây tại Điện Biên Phủ năm 1954. Sau đó ông Diệm đến Hoa Kỳ rồi đi Thụy Sỹ, Bỉ, Pháp, đến Vatican lần thứ hai, và trạm cuối là trở lại và ngừng chân lâu dài tại Mỹ từ năm 1951. Trong khoảng thời gian hai năm, ông sống trong hai tu viện Maryknoll, vùng Lakewood, bang New Jersey và Ossining, bang New York. Nhờ sự gởi gắm của người anh ruột là Giám mục Ngô Đình Thục, ông Diệm được Hồng y Spellman tiếp nhận, nâng đở và tạo cơ hội giao tiếp với dư luận địa phương qua các buổi nói chuyện tại một vài đại học cũng như tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, rồi cuối cùng được lọt vào mắt xanh của một vài chính khácht thời đó như Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, John Kennedy, Dân biểu Walter Judd, Chánh án Williams Douglas.... Tháng 5 năm 1953, ông qua Bỉ và sống trong tu viện Benidictine de St. André-les-Purges, năm sau qua Pháp chờ thời trong khi quân Pháp đang bị bại trận tại Điện Biên Phủ.

Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ năm 1954, chính sách thuộc địa của Pháp tại Đông Dương qua bao năm xương máu đã đến hồi chung cuộc. Thay chân Pháp, Hoa Kỳ tiếp tục con đường chính trị mới ở Đông Dương mà điểm nóng và then chốt là Việt Nam. Với áp lực của chính phủ Mỹ, nhờ sự can thiệp tích cực của Hồng-y Spellman mà đàng sau là Vatican và sức ép của Phong trào Cọng hòa Bình dân thân Vatican, chính phủ Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại buộc lòng phải cử Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng trên nữa phần đất phía Nam bằng sắc lệnh 38/ QT do Bảo Đại ký ngày 16. 6. 1954.

Điểm lại một vài dấu tích trên họan lộ chính trị của Ngô Đình Diệm, chúng ta sẽ thấy họan lộ đó nỗi bật hai điểm đã quyết định cuộc đời chính trị thăng trầm của ông. Thứ nhất, Ngô Đình Diệm là một con chiên ngoan ngỏan của Vatican. Thứ hai, Ngô Đình Diệm là con người được lựa chọn để thừa hành chương trình của Mỹ ở Đông Dương sau khi Pháp thất bại.

Bài viết nầy chỉ giới hạn trong phạm vi truy tầm một số nguyên nhân đưa đến sự thất bại của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, trước là để góp phần vào việc soi sáng lịch sử và định vị trí của ông trong dòng sử Việt, sau là để giảm thiểu tình trạng đánh bóng cho nhau hoặc bôi bẩn người khác vì lý do tín ngưỡng.

Bài nghiên cứu nầy cũng không nhằm so sánh Tổng thống Diệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh vì tính bất cân xứng và những dị biệt lớn giữa hai nhân vật. Nhưng vì muốn làm sáng tỏ luận điểm Tại Sao Ngô Đình Diệm Thất Bại, chúng tôi không thể tránh khỏi một vài đối chiếu lúc nghiên cứu. Do đó, trước lúc đi vào chủ điểm chính của bài viết, tôi xin trình bày vài nét về quan điểm của mình trong những nghiên cứu.

Sau 1975, nhiều người Việt ở nước ngòai phải sống giữa hai "lằn đạn": bên nầy chụp mũ Cọng sản, bên kia vu khống CIA, mà cá nhân tôi là một. Nhưng không phải vì vậy mà tôi lại méo mó trong việc nghiên cứu và viết lách của mình, mặc dầu tôi thấy có rất nhiều cây bút đã bị uốn rất cong. Lại nữa, tôi chỉ là một người nghiên cứu chứ không phải là người hơn thua nhau trong một trận chiến tuyên truyền nào, nên tôi sẽ cố tránh những danh từ xem ra thiếu ái ngữ hay hạ cấp.

Nếu trong bài nầy có những luận điểm mà quí vị không đồng ý họăc cách xưng hô mà quí vị không hài lòng, thì cũng xin thông cảm rằng, để cho tôi tôi có cái quyền và cái cách được phát biểu quan điểm của mình, dẫu quan điểm đó không hợp với quí vị. Kính mời độc giả cùng tôi tìm hiểu 7 yếu tố căn bản đưa đến sự thất bại của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.



MỘT: Tính Truyền Thống

Đối với phong tục và tập quán Việt Nam, một người xuất thân từ một gia đình có truyền thống cách mạng hay một gia đình thuộc giai cấp "thế gia vọng tộc" thì dễ được xã hội chấp nhận và dễ thành công hơn là những người xuất thân từ một gia đình gốc gác mù mờ. Ngô Đình Diệm (1901-1963) ra làm quan dưới thời Nguyễn mạt, vua chỉ là kẻ bù nhìn sống xa hoa lộng lẫy trên xương máu của những người dân bị trị trong một quốc gia bị Pháp đô hộ. "Tam Cương Ngũ Thường, Lễ Nghĩa Liêm Sỉ " không còn là những khuôn mẫu dẫu là khuôn mẫu thô sơ của nhân thế. Xã hội tiêu điều đến như vậy, mà Ngô Đình Diệm lại còn xuất thân từ một gia đình vượt qua các lằn mức đó nữa thì làm thế nào mà có thể thành tựu được sự nghiệp cách mạng, dù ông có muốn đi nữa. Bức thư (viết tay) được tìm thấy trong thư khố Pháp, do Giám Mục Ngô Đình Thục, anh ruột của Ngô Đình Diệm chứ không phải do "cọng sản ngụy tao".

HAI: Chính Nghĩa 

Sau khi bại trận tại Điện Biên Phủ, theo thỏa ước Genève, Pháp phải rút về nước, trao trả chủ quyền và độc lập cho Việt Nam. Mỹ thay chân Pháp với sách lược chận đứng làn sóng xâm lăng của Cọng Sản quốc tế mà đứng đầu là Nga Sô. Ông Diệm được Mỹ đưa về làm Thủ tướng rồi Tổng thống một nữa nước Việt Nam với quốc hiệu Việt Nam Cọng Hoà. Dẫu biện minh họăc giải thích thế nào chăng nữa, nhưng đối với tâm cảm và truyền thống của người dân Việt bình thường, thì người Mỹ lại chỉ là một lọai thực dân mới trên quê hương của dòng giống Việt không khác gì người Pháp, người Nhật, người Tàu trước đó. Chương trình viện trợ ồ ạt và sự hiện diện của các cố vấn và chuyên viên người Mỹ trên mãnh đất miền Nam đã làm cho ông Diệm mất thêm uy tín và dễ tạo sự tuyên truyền hữu hiệu cho chính quyền miền Bắc: "Mỹ là một đế quốc thực dân mới" chẳng khác nào thực dân Pháp trước đây.

Miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, chính phủ ông cũng nhận viện trợ của Trung Quốc và Nga để đánh Pháp rồi đánh Mỹ, nhưng thành phần nhân sự của hai quốc gia nầy không hiện diện trên đất Bắc, nên bộ máy tuyên truyền của miền Bắc đã tiến hành được một đòn tâm lý chiến vô cùng lợi hại cho việc vận động nhân dân tham gia cuộc chiến gọi là "Chống Mỹ Ngụy cứu nước".

BA: Lực Lượng Chủ Chốt Của Cách Mạng

Thời kỳ Pháp chiếm và đô hộ Việt Nam, hầu hết những người Công Giáo đều hỗ trợ đắc lực cho thực dân Pháp. Câu nói thời danh của Giám Mục Puginier sau đây đã mô tả trọn vẹn tâm chất và hành động của một thành phần người Pháp tay trong: "Không có giáo sĩ và giáo dân, thì người Pháp cũng như cua bị bẻ gãy hết càng" (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes).

Cũng trong cái nhìn "cua phải có càng", viên tình báo cao cấp của Hoa Kỳ là Đại tá Edward G. Lansdale đã vận dụng các kế họach nhằm di cư trên bảy trăm ngàn giáo dân từ Bắc vào Nam năm 1954, để cùng với số giáo dân sống ở miền Nam, hậu thuẩn và làm lực lượng nòng cốt cho ông Diệm.

Hầu hết các chức vụ quan trọng trong chính phủ như bộ trưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng và các tướng lãnh, các chức trọng yếu trong quân đội, Tổng thống Diệm đều sử dụng người Công giáo. Nếu không thể kiếm được người Công giáo ông mới sử dụng đến thành phần các tôn giáo khác, nhưng sau đó đem bả công danh vật chất dụ họ cải đạo như Nguyễn Văn Thiệu là một trường hợp điển hình mà ai cũng biết. Những người không chịu cải đạo thì khó được thăng cấp và bổ nhiệm mặc dầu họ có đầy đủ khả năng và thâm niên công vụ. Trái lại, nhiều người không có khả năng nhưng vì họ là con chiên thì ông Diệm giao phó những trọng trách mà họ thực sự không có khả năng.

Thật vậy, sự thảm bại tại trận Ấp Bắc (tỉnh Mỹ Tho) vào tháng 1, năm 1963 do Đại tá Bùi Đình Đạm (Tư lệnh sư đoàn 7) và Tướng Huỳnh Văn Cao (Tư lệnh quân khu 4) chỉ huy. Sự thảm bại nầy là hậu quả do hai người chỉ huy nầy không có tài nhưng đựơc giao phó trọng trách quá lớn vì họ là người cùng một tín ngưỡng với ông Diệm..

Để gia tăng số lượng tín đồ, mà mục tiêu chính là để làm hậu thuẩn cho chế độ và bành trướng nước Chúa; mở mang biên cương cho Vatican, ông Diệm và chính phủ ông một mặt thì dùng các linh mục và bà sơ dụ người vào đạo qua các chương trình giáo dục, cô nhi, ký nhi, và từ thiện. Vì thế mới có câu "Vào đạo có gạo mà ăn". Mặt khác qua mạng lưới công an mật vụ, chính phủ Ngô Đình Diệm tìm cách chụp mũ Cọng sản lên đầu tín đồ các tôn giáo khác, tra tấn hoặc bỏ tù họ cho đến lúc họ chịu theo đạo mới thả ra.

Tóm lại, lực lượng chủ chốt trong việc đối đầu với miền Bắc là thành phần Công giáo, chiếm 7 % dân số miền Nam. Ngọai trừ một số rất ít thuộc thành phần các tôn giáo khác, còn số người Công giáo làm nòng cốt cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm là thuộc thành phần đã từng theo hay cọng tác đắc lực với Pháp, nay Pháp thua bỏ về nước, họ theo chân Mỹ chạy vào Nam dưới sự hướng dẫn của Đại tá tình báo Lansdale với khẩu hiệu "Đức Mẹ đã vào Nam".

Trong lúc đó, tại miền Bắc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhận thức lực lượng cách mạng trong mối tương quan của giai cấp nông dân và thợ thuyền khởi đi từ bản tuyên ngôn của Karl Marx (và Engels) năm 1848. Trong đó, dưới cái nhìn của Marx-Engels, lực lượng chủ chốt của cách mạng là thợ thuyền vì Âu châu thời bấy giờ kỹ nghệ đang phát triển. Lúc đến Trung Quốc là một nước nông nghiệp chiếm đa số, và kỹ nghệ còn thô sơ, lại trọng nam khinh nữ, nên khẩu hiệu của Mao Trạch Đông là 'nông dân và thợ thuyền là chủ chốt của cách mạng', nhưng đã không nhắc gì đến vai trò của người phụ nữ trong xã hội.

Tại Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhận định rằng Việt Nam vẫn còn là một quốc gia nông nghiệp lạc hậu, nhưng số nhân công thợ thuyền trong các đồn điền cao su, trong các hảng dệt, biến chế... cũng đóng một vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng. Và đặc biệt hơn, là trong xã hội số lượng người đàn bà chiếm 50 % dân số. Đàn bà có thể vận tải lương thực, súng đạn, đào hầm...Như thế, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua tầm nhận thức của Mao Trạch Đông về lực lượng cách mạng, ông viết 'không có nông dân, không có thợ thuyền thì không có cách mạng. Từ bỏ nông dân, từ bỏ thợ thuyền là từ bỏ cách mạng. Và từ bỏ nữ giới là từ bỏ nữa công trình cách mạng'. Còn lực lượng cách mạng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là 7 % người Công Giáo, như đã nói ở trên thì làm sao tránh khỏi sự thất bại?

BỐN: Gia Đình Trị

Ngô Đình Diệm làm Tổng thống nhưng hoàn tòan thiếu thực quyền. Ông lại tâm đắc với quan niệm "Cái dù che cái cán" hay "Một người làm quan cả họ được nhờ". Vì thế, ông Ngô Đình Khôi, anh ruột ông Diệm, bị Việt Minh giết vì cọng tác với chính phủ bảo hộ thân Pháp thối nát và bù nhìn, thế mà Tổng Thống Diệm bắt dân miền Nam xem ông như một người ái quốc đã hi sinh vì nước, tang lễ lại nâng lên hàng quốc táng.

Giám Mục Ngô Đình Thục, anh ông Diệm và là người con trai thứ nhì trong gia đình, lợi dụng chức quyền của người em làm Tổng thổng để bắt các sĩ quan, quận trưởng, tỉnh trưởng và bộ trưởng đi học các lớp nhân vị tổ chức tại Tòa Giám mục Vĩnh Long. Lễ Ngân Khánh ngày 29. 6. 1963 (kỷ niệm 25 năm làm Giám mục) được tổ chức như quốc lễ. Các bộ hạ thân tín của Giám mục Thục thành lập một Ủy Ban mừng lễ Ngân Khánh gồm các nhân vật như Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc hội kiêm chủ tịch lễ Ngân Khánh, Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Quang Trình, Viện trưởng viện Đại-học Sài Gòn Lê Văn Thới, Viện trưởng viện Đại Học Huế Cao Văn Luận, và tỉnh trưởng các nơi dĩ nhiên là phải tham gia. Tại các Bộ, các nha, ty, sở, đại học, quân nhân, công, tư chức khắp 43 tỉnh và thị xã tòan miền Nam đều thành lập các tiểu ban để bán vé, và ép công chức và quân nhân cấp uý trở lên mua vé "Mừng Lễ Ngân Khánh". Mỗi vé từ 2.500 đồng đến 5.000 đồng (hối suất lúc đó :1 Mỹ Kim tương đương khoảng 25 đồng tiền Việt Nam). Có người ra sức đóng góp nhiều hơn để lấy lòng "Đức" Giám Mục. Với hành động dĩ công vi tư và bóc lột trắng trợn nầy, Giám mục Ngô Đình Thục thu lượm được bạc tỷ (Vũ Văn Mẫu Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, tr. 9, và Hoành Linh Đỗ Mậu Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi, California, Hoa Kỳ 1986, tr. 512 & 513).

Giám mục, và em là Ngô Đình Nhu, độc quyền khai thác gỗ quí vùng Long Khánh và dọc đường từ Định Quán đến Lâm Đồng, làm chủ đại thương xá Tax đường Nguyễn Huệ, nhà sách Xuân Thu đồ sộ trên đường Tự Do, cư xá cho thuê ở đường Trần Hưng Đạo, biệt thự sang trọng trên bờ sông Thị Nghè...Từ thượng vàng đến hạ cám, Giám mục Ngô Đình Thục đã không từ bỏ bất cứ một cơ hội nào để làm tiền. Lấy ngân sách quốc gia để xây cất trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long, cất nhà cho thuê, xây dựng quán ăn, tiệm giải khát chung quanh trung tâm nầy để kiếm lợi nhuận. Lợi dụng cơ hội trùng tu nhà thờ La Văng để hốt bạc. Ngay cả việc nhờ "Tổng Thống Diệm ra lệnh cho Đại Tá Phùng Ngọc Trưng (hiện ở Pháp), đang chỉ huy ngành Quân Nhu ở Quân Khu I, phải mua nước mắm thối của các bà sơ ở Phan Thiết, để bán cho các gia đình binh sĩ" (Hoành Linh Đỗ Mậu Việt Nam Máu Lữa Quê Hương Tôi, tr. 511).

Ngô Đình Nhu. Tại Sài Gòn, vợ chồng Ngô Đình Nhu có hai biệt thự đồ sộ, một ở đường Phùng Khắc Khoan và một ở góc Pasteur và Hiền Vương. Hai biệt thự nầy thuộc lọai sang trọng nhất nhì Sài Gòn. Tại Đà Lạt, biệt thự nghĩ mát của vợ chồng bà Nhu nguy nga đồ sộ hơn, "gồm có sân vũ cầu, hồ tắm, và nhiều lọai kiến trúc sang trọng khác, đã xây dựng nhiều năm nhưng cho đến trước lúc bị lật đỗ, năm 1963, mà vẫn chưa hòan thành" (The building of this huge complex, consisting of tennis courts, swimming pool, and several luxurious structures, took several years and had not really been completed before the coup d'état in 1963. Tran Van Đon, Our Endless War, Presidio Press, San Rafael, Ca. 1978, p. 64).

Ngoài ra, cùng với người anh là Ngô Đình Thục, vợ chồng ông Nhu khai thác rừng gỗ quí ở Định Quán và dọc đường Định Quán – Đà Lạt. Khai thác nước suối Vĩnh Hảo, lông vịt ở Chợ Lớn, phân chim ở các đảo Trường Sa, Hoàng Sa, nhà thuốc Tây O.V.P. Đó là chưa kể thủ lợi qua các chương trình viện trợ của Mỹ, tổ chức các sòng bạc kín và vĩ đại, buôn bán thuốc phiện.

NĂM: Diệt Các Đảng Phái Và Giáo Phái

Ông Diệm người Quảng Bình, được xem như là người miền Bắc (vì ở bên kia vĩ tuyến 17) vào làm "vua" miền Nam. Với óc địa phương "Nam Kỳ Quốc", nhiều người miền Nam không ưa. Đã thế, chính phủ Ngô Đình Diệm lại có chính sách đàn áp và tiêu diệt các đảng phái quốc gia, tiêu diệt Cao Đài, Hòa Hảo vốn là hai giáo phái mạnh và được nhiều người miền Nam mến mộ. Tướng Trịnh Minh Thế của Cao Đài bị giết mờ ám, tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh của Hòa Hảo bị lừa rồi bị hành quyết, giáo chủ Phạm Công Tắc bị bôi bẩn để triệt tiêu, phải chạy trốn sang Nam Vang. Hành động thiếu sáng suốt biến bạn thành thù đã tạo thành những thế lực chống đối nhà Ngô lúc ngấm ngầm, lúc công khai ầm ỷ làm lung lay gốc rễ của chế độ.

Trong lúc đó, Hồ Chí Minh đã có chủ trương tôn giáo khôn khéo. Năm 1946 tại Paris, ông đề nghị chương trình Tam Tự với các bà con người Công Giáo: Tự Dưỡng, Tự Quản và Tự Truyền; tách rời khỏi sự khống chế quá mức của Vatican. Tại miền Bắc, ông mời Giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn, Nguyễn Mạnh Hà (người Công Giáo) làm bộ trưởng kinh tế trong chính phủ VNDCCH đầu tiên.

Ngô Đình Diệm, một con chiên Việt Nam ngoan đạo, và dòng họ ông ta, không còn nằm trong thành phần vọng ngoại và trọng ngọai nữa mà đã biến thành những người Việt- gian đắc lực. Hành động nầy được Giám mục Ngô Đình Thục, anh ruột của chính Tổng thống Ngô Đình Diệm chứ không phải người nào khác, cho biết trong một bức thư gởi cho Tòan Quyền Decoux năm 1944 như đã trình bày ở đọan trước.

Nói như Linh Mục Hoàng Quỳnh "Thà mất nước không thà mất Chúa". Nhưng Chúa (nếu có) thì ở tận mải trên trời xanh không ai thấy, không ai biết. Do đó, câu nói trên phải được hiểu "Thà mất nước, chứ không thà mất Vatican", vì Vatican theo tín lý là cơ quan đại diện cho Chúa ở trần gian. Vì thế, Pháp đã gài cô Nguyễn Thị Lan, một tín đồ đạo gốc, làm vợ vua Bảo Đại với hy vọng biến ông vua Việt Nam tương lai, Bảo Long, thành một tín đồ của Vatican làm vua trong một quốc gia có trên 80 % là Phật Giáo. Cũng vậy, hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cọng Hòa, người dân miền Nam Việt Nam không có tự do dân chủ, họ không có quyền chọn lựa người đại diện họ. Hai Tổng thống đều là người Công Giáo trong số dân mà họ chỉ có 7%. Đây cũng là một trong những lý do làm cho dân chúng bất mãn chế độ.

Như đã trình bày ở phần đầu, những chức vụ quan trọng trong quân đội, trong các bộ các ngành, tỉnh trưởng, quận trưởng, viện trưởng, giám đốc, trưởng phòng v.v. đều do người Công Giáo nắm giữ. Nếu thiếu không kiếm được người cùng tôn giáo mới bổ nhiệm người các tôn giáo khác. Sau đó, ông Diệm dùng miếng mồi thăng chức, thăng quyền nhanh chóng cho những ai bằng lòng cải đạo. Thí dụ: Ông Trần Văn Lắm cũng nhờ đổi đạo mà giữ đựơc chức Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần, về sau làm đại sứ. Nhờ theo Thiên Chúa giáo mà Nguyễn Đình Thuần từ chức Đổng lý Văn phòng Bộ Quốc Phòng được thăng lên chức Bộ trưởng Phủ Tổng Thống. Đại tá Nguyễn Văn Y nhờ rữa tội nên được bổ nhiệm chức Tổng Giám đốc Nha Cảnh Sát Công An. Nguyễn Văn Thiệu cũng nhờ rửa tội mà lên cấp tá dưới thời ông Diệm, và về sau được Mỹ cho làm Tổng thống Đệ Nhị Cọng Hòa (Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, Vũ Văn Mẫu, Giao Điểm 2003, trang 53). Thật là nhục nhã cho một số người có học mà chạy theo chức quyền.

Tại các thôn làng, các vùng kinh tế mới, Ấp Chiến Lược, công an mật vụ của ông Diệm, Nhu và Cẩn vu khống, chụp mũ Cọng sản lên đầu dân lành rồi bắt họ bỏ tù. Sau đó, các bà sơ và linh mục, giám mục tìm cách móc nối với gia đình nạn nhân và khuyên họ cải đạo để được thả về còn không thì bị tù rục xương. Có nhiều người thà chết không chịu bỏ đạo nên bị chết trong tù do thương tích tra tấn, hoặc do đỗ nước lạnh hay nước xà bong vào miệng, sau đó cai tù đứng lên bụng đạp cho nước tràn ra, và tiếp tục làm như vậy cho đến lúc nạn nhân chỉ còn thoi thóp chờ chết.

SÁU: Kỳ Thị Tôn Giáo Để Bành Trướng Nước Chúa 

Ngô Đình Diệm là một con người có đến hai nhiệm vụ. Là một chính khách do Mỹ đưa về, ông phải thỏa mãn đường lối của chủ. Là một tín đồ ngoan đạo, ông có bổn phận bành trướng nước Chúa. Đây là lý do chính để giải thích tại sao ông Diệm và anh em ông ta kỳ thị và đàn áp Phật Giáo, một tôn giáo có gốc rễ lâu đời và có số lượng tín đồ đông nhất Việt Nam.
Không riêng gì ở Việt Nam, mà hầu hết bất cứ quốc gia nào, nhất là các nước kém mở mang, lúc trở thành một tín đồ của đạo thờ ngài Giê-Su thì họ có khuynh hướng vọng ngọai, trọng ngọai và thường muốn ly khai với tổ quốc của chính họ. Gần Hoa Kỳ thì có nước Mễ Tây Cơ. Giáo hội Công giáo của quốc gia nầy thường chống lại tổ quốc của họ và làm lợi cho ngoại bang là Tây Ban Nha. Vì thế, Hiến Pháp 1917 của Mễ đã ngăn cấm giáo hội Công giáo mở trường học và sở hữu bất động sản. Các tu sĩ lúc ra đường thì bị cấm không cho mặc đồ tu, không có quyền bỏ phiếu...

Gần Việt Nam, nước Phi Luật Tân bị người Bồ Đào Nha chiếm từ thế kỷ 15, cưởng bách dân Phi trên 80 % cải đạo qua Công giáo. Vua Philip của Tây Ban Nha lấy tên mình đặt tên cho quốc gia nầy là Philippines, có nghĩa là những hòn đảo của vua Philip. Cái nhục quốc thể nầy không bao giờ gỡ ra được vì hầu hết dân Phi là Công giáo. Ngày nay, tại một vài đảo xa thủ đô Manila, quân thiểu số Hồi Giáo chống lại quân chính phủ và đòi lập một nước độc lập tự trị cũng do những nguyên nhân lịch sử nầy.

Trong kế họach cưởng bách đổi đạo, các chính quyền Công giáo đã không từ bỏ bất cứ một hành động tàn ác nào. Chính phủ Ustashi của Ante Pavalic là một thí dụ. Quốc gia Nam Tư (Yugoslavia) nằm trên bán đảo Balkan thuộc khối Đông Á phía Nam giáp nước Ý. Nam Tư có đến 6 bộ tộc khác nhau. Chủng tộc Serbia có khoảng 8. 5 triệu dân, theo Chính Thống giáo. Bộ tộc Croatia có khoảng 4. 5 triệu, theo Công giáo La Mã. Bốn bộ tộc còn lại dân số khoảng 7. 5 triệu theo Hồi Giáo. Tháng 4.1941, Hitler chiếm Nam Tư rồi biến bộ tộc Croatia thành một quốc gia riêng biệt, lập chính phủ mới có tên là Ustashi do một giáo dân cuồng nhiệt, Ante Palavic, làm Tổng thống với sự hổ trợ của giáo hội Vatican La Mã. Quân đội Đức Quốc Xã và những đội quân của các linh mục chỉ huy đi lùng bắt và khủng bố để cưởng bách tín đồ Chính Thống giáo đổi đạo. Chỉ một thời gian khỏang 8 tháng mà có đến 30 % dân Serbia bị đổi đạo, và khoảng 1. 2 triệu bị giết vì không chịu theo Công giáo La Mã.

BẢY: Không Đáp Ứng Nhu Cầu và Quyền Lợi Của Ngọai Bang

Những ai có sống trên đất Mỹ nhiều năm hoặc có tìm hiểu về chính sách của chính phủ Hoa Kỳ thì sẽ thấy rằng, họ không có bạn cũng chẳng có thù nhưng chỉ vì quyền lợi mà thôi. Thực vậy, lúc cần phải bang giao với Việt Nam, (một quốc gia thù địch số một vì trong suốt chiều dài lịch sử của Mỹ họ chưa bao giờ thua trận tại một nước nào ngọai trừ Việt Nam), thì mặc cho cọng đồng người Việt nước ngòai (nhất là tại Hoa Kỳ) vận động, biểu tình, chống đối, gởi kiến nghị, dâng thỉnh nguyện thư, nhưng chính phủ Hoa Kỳ sau khi bỏ lệnh phong tỏa kinh tế họ lại ký giao thương với chính phủ Việt Nam, họ có bao giờ quan tâm đến những thành phần mang thù hận ngút ngàn họăc những kẻ Việt Nam vong bản tha hương!

Ông Ngô Đình Diệm sau bao năm hết đến Vatican thì trở lại Mỹ, thôi ở tu viện nầy lại đến trú tại tu viện khác. Lúc tình hình chín muồi vì Pháp đã bại trận sau gần 100 năm đô hộ Việt Nam, ông Diệm được Hoa Kỳ đưa về và cho làm Thủ Tướng rồi Tổng Thống trên một phần đất có hơn 80% dân chúng khác tín ngưỡng với ông. Nhưng lúc ông Diệm vụng về và lộ liễu trong vấn đề kỳ thị tôn giáo làm cho chính phủ Hoa Kỳ khó ăn nói với thế giới, và nhất là lúc họ biết được ông liên lạc với miền Bắc để kiếm một thế đứng khác, thì chính phủ Hoa Kỳ bỏ rơi ông. Do đó, biến cố Phật Giáo năm 1963 chỉ là một phụ lực đẩy thêm cái cánh cửa mục nát đã sút hết bản lề. Đây cũng là một bài học mà những người làm chính trị cần lưu ý.
Lúc chính phủ Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ cũng có nghĩa là lúc Chủ nghĩa Thực-dân và phong trào đi chiếm thuộc địa toàn thế giới bị cáo chung. Và sự chiến thắng của quân đội Việt Minh tại Điện Biên Phủ ở miền Bắc Việt Nam cũng có nghĩa là sự thắng lợi của chủ nghĩa Cọng Sản quốc tế. Vì thế, Hoa kỳ thay chân Pháp mà một trong những mục đích chính là chận đứng sự bành trướng của Cọng Sản quốc tế ở vùng Đông Nam Á, nếu không thì thế ngọai giao của Hoa kỳ trên chính trường quốc tế bị thu hẹp, các đồng minh khinh thường hoặc dần dần xa lánh, và thị trường của Mỹ sẽ bị giới hạn. Điều đó cũng có nghĩa là quyền lợi của giới tư bản trong chính quyền Hoa Kỳ bị thương tổn, kéo theo sự lung lay thị trường chứng khóan thế giới mà các cổ phần của giới tư bản và cổ phần của các tổ chức tôn giáo Tây Phương cũng bị ảnh hưởng theo.

Thực vậy, mặc dầu nói là dân chủ tự do, nhưng không giàu có thì không thể trở thành Tổng thống hay nghị sĩ dân biểu trên đất Hoa Kỳ. Bằng chứng là Bộ trưởng Quốc phòng McNamara từng là giám đốc công ty hảng xe hơi Ford, và ngọai trưởng Dean Rusk từng là giám đốc công ty khí giới. (Cũng như cuộc chiếm đóng Iraq hiện nay, chính phủ Hoa Kỳ gọi đó là cuộc "Giải Phóng Iraq" (For Iraqi Liberation), nhưng những đòan biểu tình tại Mỹ lại cho là hành động "Lấy Máu Đổi Dầu" (Blood For Oil) vì Iraq là quốc gia có sản lượng dầu hỏa đứng hàng thứ nhì (?) thế giới. Báo Washington Post số ra ngày 28. 8. 03 cho biết rằng công ty Halliburton, do phó Tổng Thống Dick Cheney làm giám đốc trước đây, nhận được hợp đồng 1.7 tỉ Mỹ-kim và một số các hợp đồng khác trị giá hằng trăm triệu Mỷ-kim mà tất cả đều không thông qua một thủ tục đấu thầu bình thường nào.

Được đắc cử mà không phục vụ quyền lợi của giới tư bản thì cũng khó sống. Cái giá đó nhiều khi phải trả bằng chính mạng sống của mình như trường hợp Tổng Thống Kennedy, người có dự định rút quân ra khỏi Việt Nam sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, trong lúc số khí giới và các sản vật cung ứng cho Thế Chiến Thứ 2 còn tồn đọng quá nhiều chưa có cơ hội tiêu thụ hết để thu lợi nhuận.

Cũng thế, Giáo Hòang Pius XII vận động và đề nghị chính phủ Hoa Kỳ thả từ 1 đến 6 qủa bom nguyên tử bậc trung xuống Bắc Việt để giải cứu cho quân đội Pháp bị bao vây tại trận Điện Biên Phủ, cũng nhắm đến hai mục đích chính: Một là Vatican có rất nhiều cổ phần trong tất cả các công ty sản xuất khí giới chiến tranh, mà khí giới chiến tranh chỉ có thể tiêu thụ bằng chiến tranh khí giới. Do đó, nếu cuộc chiến Việt Nam chấm dứt thì Vatican và các nhà tư bản có nhiều cổ phần trong các công ty dĩ nhiên là không muốn. Lý do thứ hai là cần cuộc chiến và mựơn tay thực dân đế quốc để biến dân Việt Nam thành một quốc gia tòan tòng Công Giáo (và sau nầy có thêm Tin Lành) để dễ thống trị : Hình ảnh con cua gãy càng là một thí dụ rất chính xác của Giám Mục Puginier mà chúng ta nên nhớ làm lòng để giữ gìn quốc gia xứ sở.

Ngô Đình Diệm không thể sống vì ông là một người làm công không đáp ứng được quyền lợi của chủ. Nói như thế không có nghĩa là tôi chê bai ông Diệm, mà nếu giả sử chúng ta là ông Diệm thì cũng bị giết chết nếu chúng ta không chuẩn bị cho mình cái thế dân tộc và nhân dân hậu thuẫn từ ban đầu. Nhưng rất tiếc, vì cái thế dân tộc, nếu có, của Ngô Đình Diệm là tập đòan giáo sĩ và hơn một triệu con chiên ít học và cuồng tín thì làm sao đứng vững được? Lý do khác mà người ta bỏ ông Diệm vào hòm cũng chẳng phải vì ông Diệm có tinh thần quốc gia dân tộc và độc lập tự cường như một số người bênh vực nhầm, nhưng vì ông Diệm quên rằng khi người ta dẫn ông về thì ông phải biết cái mà người ta thích, và phải làm cái mà người ta muốn. Điều đó tổ tiên đã dạy rất kỷ nhưng chúng ta có lẽ vì học quá thuộc nên quên chăng: "Ta về ta tắm ao ta".

Thêm vào đó, ông Diệm lại ngầm liên lạc với Hồ Chí Minh để được "bảo đảm" cái ghế "Thủ Trưởng Miền Nam trong Liên Bang Việt Nam sau nầy", chứ cũng chẳng phải ông Diệm muốn hai miền thống nhất để tiết kiệm xương máu của nhân dân như một vài tay chân bộ hạ bênh vực thiếu cơ sở. Có người lại không biết sự hứa hẹn cái ghế "Thủ Trưởng Miền Nam" nên lớn tiếng nói rằng "Cụ Còn Thì Miền Nam Không Rơi Vào Tay Cọng Sản". Để làm sáng rõ vấn đề nầy và tránh bị chụp mũ "Cọng Sản", tôi trích một đọan của Giáo sư Tôn Thất Thiện, tiến sĩ chính trị học, từng là Bộ Trưởng Thông Tin chính phủ Việt Nam Cọng Hòa trước 1975, và cũng là một trong những người bênh vực ông Diệm hết mình và chống Cọng "chết bỏ" ở hải ngọai, đăng trên Nhật Báo Người Việt, một tờ báo cũng thuộc lọai chống Cọng hung hản. Báo Người Việt, mục Diễn Đàn, California ngày 19. 8. 2003, bài viết có tựa đề "Một Quan Điểm Mới Về Vụ Đảo Chánh Tháng 11, 1963", giáo sư Tôn Thất Thiện viết:

"Nhìn từ một khía cạnh Á-đông, "thảm kịch Việt Nam" được thấy như sau. Ông Ngô Đình Diệm đã thực hiện được một kỳ công lớn: ông đã dành được một danh vị mà tất cả những người Việt có nguyện vọng làm lãnh tụ quốc gia đều mơ mộng: được công nhận ngang hàng với Hồ Chí Minh. Điều nầy rõ ràng khi Hồ Chí Minh nói với ký giả cọng sản trứ danh Úc Wilfred Burchett, rằng: "Ông Diệm là một nhà ái quốc theo kiểu của Ông ấy", và " khi nào anh gặp Ông ấy, anh bắt tay Ông ấy hộ tôi".

"Nhân dịp Tết, ông Hồ nhờ Hội Quốc Tế chuyển cho Ông Diệm một cành đào nở hoa. Ông Diệm cho chưng cành đào nầy trong phòng khách dinh Gia Long cho ngọai giao đòan thấy. Các nhà ngọai giao lấy việc nầy làm lạ, vì họ không hiểu rằng dữ kiện nầy có một ý nghĩa biểu tượng: đó là một biểu lộ sự tôn kính của Hồ Chí Minh đối với ông Ngô Đình Diệm ! "

*****

Những sử liệu nêu trên cho thấy Tổng thống Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình Công giáo Ba Đời Việt Gian, không để lại được một tác phẩm hoặc một bài diễn văn, tự viết, để cho thấy tư tưởng chính trị và chương trình hành động của mình, không tranh đấu và khó nhọc trên chính trường, được thực dân Pháp cho chức Thượng Thư dưới thời Nguyễn mạt. Ông ra hải ngoại, sống từ tu viện nầy sang tu viện khác. Lúc thời cơ đến, ông được ngoại bang bồng về LÀM CÔNG dưới danh vị Thủ Tướng rồi Tổng Thống để thực hiện chính sách và bảo vệ quyền lợi của CHỦ.
Cọng sự viên thân tín và cũng là những người trực tiếp đẩy ông xuống huyệt là mấy anh em người nhà: tham nhũng, hối lộ, ham quyền, lạm chức.

Lực lượng hậu thuẫn trực tiếp là Giáo Hội Công Giáo Việt Nam và trên một triệu con chiên. Còn 80 % dân chúng khác tín ngưỡng thì bị đối xử bất công hoặc như kẻ thù, người thì bị tra tấn, tù đày, cưỡng bách cải đạo, kẻ thì bị giết.

Dối gạt dân chúng, nhất là thành phần quân nhân, để đấu thầu chống cọng thu lượm đô la Mỹ. Không thực hiện được những điều mà CHỦ muốn, lại còn ngầm liên lạc với miền Bắc để kiếm ghế Thủ Trưởng Miền Nam nên bị CHỦ giết. Con người và sự nghiệp của Ngô Đình Diệm giản dị và rõ ràng như thế.
Tuy nhiên, một cách khách quan hơn, chúng ta có thể thông cảm phần nào cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vì trong các sử liệu không thấy có ai nói ông tham nhũng hối lộ và cáo buộc ông trực tiếp thi hành các chính sách độc ác bất công. Hầu hết các sử gia đều chỉ nói nhiều về, và nói một cách khinh miệt, anh em ông và chính phủ ông cũng như chính sách của cái tôn giáo mà ông là một tín đồ. Nhưng dẫu có thông cảm đến mức nào đi nữa, thì cố Tổng thống Ngô Đình Diệm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tất cả những sự thịnh suy của miền Nam trong giai đoạn ông cầm quyền. Ông là một người ngây thơ, đức mỏng nhưng ngôi cao, tài hèn mà làm việc lớn thì chắc chắn thất bại. Do đó, những danh từ như anh minh, chí sĩ, hoặc gán cho ông có tinh thần quốc gia, độc lập, chủ quyền, hoặc "Cụ còn thì miền Nam không mất" v.v. , tất cả những cái đó đều hư dối, sai với thực tế, cần được bải bỏ.

Nếu để khen ngợi một người không tham nhũng, thì tôi xin gởi đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm một nén hương lòng. Còn việc tổ chức lễ hàng năm để đánh bóng ông thì hoàn toàn nhảm nhí, cũng như có người muốn vận động làm đài kỷ niệm để tôn vinh một người bất xứng trong tất cả mọi lãnh vực, mà sử liệu đã cho thấy, thì không nên. Hai việc làm thiếu cân nhắc nầy cần được chấm dứt để khỏi nhục cho cọng đồng người Việt chúng ta.

Những khủng hoảng rối ren sau 1963 là lỗi của các vị tướng lãnh không lịch lãm trên trường chính trị. Những rối ren đó là điều bất hạnh cho các nước nhược tiểu, gồm có Việt Nam, bị làm con cờ thí cho ý thức hệ và quyền lợi của các cường quốc. Và sự rối ren ấy cũng khó ngăn cản được nhất là dưới thời ông Diệm, vì giới tư bản, qua những danh từ hoa mỹ, nhưng không ngoài mục đích cần phải tiêu thụ hết các sản phẩm còn tồn đọng sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Do đó, tư tưởng và hành động của tất cả mọi người dân phải đặt trên nền tảng "Ta về ta tắm ao ta". Ta thương ta là tình thương trung thành hơn cả. Nên "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi" như ông Bụt đã khuyên./-

CDNV

10 June 2014

BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG THÉT GÀO

BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG THÉT GÀO
 

Đảo Lý Sơn đầu tháng 5
Cộng Tàu hộ tống giàn khoan tiến vào(1)
Biển Đông dậy sóng thét gào
Đồng bào ơi đuổi giặc Tàu xâm lăng!
Đâu hồn Phù Đổng Thiên Vương
Ngô Quyền sóng Bạch Đằng Giang thuở nào
Cứu non sông! Cứu đồng bào!
Khỏi Tàu cộng sản kéo vào nước Nam!
 
Trăng đêm Phù Đổng dát vàng
Thiên Vương lên ngựa rời làng cứu dân
Tre ngà thay lưỡi gươm thần
Chém tơi tả xác giặc Ân truyền đời
Đường Lâm tiếng thét dậy trời
Ngô Quyền tuyên thệ đáp lời núi sông
Nước Nam đây của Vua Hùng
Ngàn năm Bắc Thuộc núi sông quyết đòi!

Hoàng Sa súng nổ vang trời(2)
Bắn chìm tàu giặc nối đời xâm lăng
Ngụy Văn Thà quyết không hàng
Thề hy sinh giữ non sông biển trời
Bảy Tư Lính Cộng Hòa ơi
Nghìn năm sau vẫn rạng ngời sử xanh!
Sống anh hùng, chết liệt oanh
Chống Tàu cộng sản lưu danh kiếp đời!

Bởi ai mất biển, mất trời?
Bởi ai đau đớn giống nòi Việt Nam?
Bởi ai Tàu cộng nghênh ngang
Bắn dân, cướp cá, xâm lăng biển nhà?
Bởi ai dâng hiến Hoàng Sa?
Bởi ai Tàu cướp đảo ta dễ dàng?
Ông trời có mắt hay chăng?
Mà cho bè lũ Việt gian tiếm quyền?

Ngàn năm tính sổ ghi tên
Bồ đoàn Chiêu Thống độc quyền hôm nay
Làm thì dở, nói thì hay
Cướp đêm hơn giặc, cướp ngày như quan
Đi đâu cũng gặp dân oan
Đứng ngồi la liệt cửa quan đòi nhà
Đòi đất, đòi mẹ, đòi cha…
Đòi mồ, đòi mả ông bà tổ tiên!

Vài lời vọng hỏi Dân Tiên(3)
Ông là nhà báo ở miền nào ta?
Mà sách ấn bản tiếng Hoa
Tôn vinh ông ấy "cha già" của ai?
Ngàn năm dân tộc truyền đời
Đã bao giờ nhận một người làm cha?
Lạc Long Quân thuở xưa xa
Cũng chưa tự nhận "cha già", rõ không!

Hỏi ai dâng giặc Biển Đông
Theo Mao tàn phá non sông biển trời?
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về nước Việt mà thôi lụy Tàu!


Hà Nội, 8/6/2014
Đặng Huy Văn


CHÚ THÍCH:

(1). Từ ngày 2/5/2014, giặc Trung Quốc đã cho hàng trăm tàu hải quân, hải giám, kiểm ngư, ngư chính và tàu cá giả danh hộ tống giàn khoan MD 981 hạ đặt trái phép trên thềm lục địa của Việt Nam cách đảo Lý Sơn 120 hải lý, bất chấp các công ước và luật pháp quốc tế.

(2). Hải Chiến Hoàng Sa: ngày 19/1/1974, giặc Trung Quốc đã dùng một lực lượng hải quân áp đảo cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ tay Việt Nam Cộng Hòa. Trong trận Hải Chiến đó, những người lính Hải Quân Cộng Hòa đã kiên cường đánh trả giặc Tàu, đã bắn chìm và bắn hỏng nhiều tàu chiến của giặc. 74 người lính thân yêu của VNCH đã hi sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu đảo nhưng trước sức mạnh áp đảo của giặc, Hoàng Sa đã rơi vào tay giặc Trung Quốc xâm lược. Thiếu tá Hạm Trưởng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 Ngụy Văn Thà đã kiên quyết bám trụ HQ 10 và đã cùng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo chìm xuống đáy biển Hoàng Sa. Ông là một biểu tượng sống động của tình yêu Tổ Quốc trong Thế Kỷ 20 của Dân Tộc Việt Nam trước kẻ thù xâm lăng truyền kiếp Phương Bắc!

(3). "Nhà báo" Trần Dân Tiên là tác giả cuốn sách "Những mẫu chuyện về đời goạt động của Hồ Chủ Tịch" xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Hoa năm 1948 tại Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch). Mặc dù ông Trần Dân Tiên viết rằng "Tôi viết cuốn sách này với mục đích cho "đồng bào" Việt Nam biết về thân thế và sự nghiệp của chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già của dân tộc Việt Nam" nhưng lại xuất bản bằng tiếng Hoa cho người Tàu đọc, mãi 10 năm sau mới được dịch ra tiếng Việt và năm 1958 mới xuất bản tại Việt Nam. Đây là một nghi vấn lớn về "nhà báo" Trần Dân Tiên mà sau này mọi người mới ngã ngữa ra, Trần Dân Tiên chính là một bút danh của ông Hồ Chí Minh. Ông dùng bút danh này để viết sách tự ca ngợi mình và tự nhận mình là "cha già của dân tộc Việt Nam"! Trong lịch sử bốn nghìn năm của nước ta, tất cả các vị anh hùng hào kiệt mọi thời đại cũng chỉ dám nhận mình cao nhất là người con ưu tú của dân tộc, chứ chưa có bất cứ ai tự nhận mình là "cha già của dân tộc Việt Nam" cả! Trừ phi, đó là một kẻ cùng dòng giống Hán tặc với Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình…

Lời thú tội kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam


Lời thú tội kinh hoàng của Đảng Cộng Sản Việt Nam
                           
Trúc Giang MN
  

1* Mở bài


Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau:

"Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn "phát triển tốt đẹp" và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với 'mâu thuẫn gia đình'.

Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh

Ông Thanh nói:"Trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi." (Phùng Quang Thanh)

Ông Thanh ví cuộc tranh chấp như mâu thuẩn trong một gia đình rất đúng. Về mâu thuẩn gia đình thì Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và phái đoàn của đảng CSVN đã xin cho Việt Nam được làm một khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Bắc Kinh, và đã được "Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc "gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc". (Hết trích)

Mâu thuẩn trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là hiện thực, Tây Tạng và Tân Cương là một chứng minh cụ thể.

GS Carl Thayer cho biết: "Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể", do đó ta có thể nhận ra 'mâu thuẫn gia đình' nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

"Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu". Đó là lời xác nhận của một cán bộ Việt Cộng cao cấp thuộc Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao, đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990.

Bài nầy nêu những bằng chứng cụ thể để chứng minh hoạt động của hai bên Việt-Trung trong chương trình 30 năm về mọi mặt gọi là "đại cuộc", và ngụy trang bằng cụm từ "16 chữ vàng"

Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đã cấy sinh tử phù và đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán ngụy hiện nay như cá nằm trên thớt, vô phương cục cựa.

Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành sự kiện vĩ đại đối với Việt Nam cho nên gọi đó là "đại cuộc" và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ "16 chữ vàng". Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì "đại cuộc", và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 16 chữ vàng.

Tuyên bố của Phùng Quang Thanh thật đúng là lời thú tội kinh hoàng đối với người Việt trong nước.

Cho dù Wikileaks không tiết lộ, xem như không có biên bản đó, thì xuyên qua những hành động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước.

2* Đảng Cộng Sản Việt Nam xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh

Từ trái qua phải.
Lý Bằng, Giang Trạch Dân (nắm tay Nguyễn Văn Linh),
Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng (chắp tay)

Hàng trước từ trái sang:
1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư., (3) Phạm Văn Đồng,
(4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân),
5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), 6) Lý Bằng,
7) Đỗ Mười, 9) Hồng Hà (bìa phải)

Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tài liệu chi tiết như sau:
"Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh , Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ".

"Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây".

"Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN "giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc". (Hết trích)

3* Bí mật của chương trình 30 năm sát nhập Việt Nam vào Trung Cộng
 

Hội nghị tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nhưng nội dung CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc là bí mật.

Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như "đại cuộc", "phương châm 16 chữ vàng", "hợp tác chiến lược toàn diện", "Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện"…

Những cụm từ nêu trên là cái nhãn hiệu che giấu chương trình 30 năm ở Thành Đô.

4* Sự ra đời của "16 chữ vàng"

 

4.1. Bước mở đầu

Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.

"Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan"

Việt Trung tuy hai mà một, tương nhập là lẻ tất yếu và hợp tình, hợp lý.

4.2. Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng

Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành "đại cuộc" đó.

Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

16 chữ vàng:

Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).

Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.

5* Thực hiện chương trình 30 năm trên cơ sở 16 chữ vàng


5.1. Nội dung chương trình

Chương trình 30 năm Thành Đô được các đời Tổng bí thư CSVN ký kết qua những bản tuyên bố chung về hợp tác toàn diện để Việt Nam hội đủ điều kiện sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

Hợp tác toàn diện về các mặt:

- Việc quản lý đảng, quản lý nhà nước thông qua những cuộc thăm viếng của các lãnh đạo cao cấp hai bên.

- Giao lưu về các mặt: chính trị, kinh tế thương mại, quân sự, văn hóa, hữu nghị nhân dân…từng bước nâng lên tầm cao mới sẵn sàng cho ý nguyện hội nhập theo tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.

5.2. Những bước cụ thể đã được thực hiện

5.2.1. Hợp tác toàn diện về việc quản lý đảng và quản lý nhà nước

Các lãnh đạo cao cấp của đảng và nhà nước hai bên liên tục có những cuộc viếng thăm quan trọng, không ngừng vun đắp quan hệ hợp tác toàn diện, từng bước nâng lên tầm cao mới để đáp ứng "nguyện vọng của nhân dân hai nước" là hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

1). Những lãnh đạo Trung Cộng sang thăm Việt Nam
Từ tháng 11 năm 1992 đến năm 2013 đã có 8 lãnh đạo cao cấp Trung Cộng
đến thăm và làm việc với lãnh đạo đảng CSVN

Thủ tướng Lý Bằng (tháng 11 năm 1992). Chủ tịch Quốc hội Kiều Thạch Đàng (tháng 11, 1994 và tháng 3, 2002). Chủ tịch nước Giang Trạch Dân (tháng 6, 1996). Thủ tướng Chu Dung Cơ (tháng 11, 1996). Thủ tướng Ôn Gia Bảo (tháng 12, 1996).

Từ 31-10 đến 2-11-2005 Hồ Cẩm Đào kinh lý Việt Nam. Đó là chuyến viếng thăm cao cấp nhất, đầy đủ cương vị: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy TW, là bước ngoặt quan trọng thúc đẩy Việt Nam hội nhập vào Trung Quốc.

Sau đó là viếng thăm của Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Quốc Cường. Ngoài ra còn có nhiều lãnh đạo cấp thấp tới lui rộn rịp.

2). Về phía lãnh đạo Việt Nam sang chầu thiên triều

Tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt mà thực chất là hoàn tất chương trình 30 Thành Đô, sát nhập vào "đại gia đình các dân tộc Trung Quốc".

Ngoài những bản tuyên bố chung, Việt Nam bị bắt buộc phải thành lập "Ủy Ban Chỉ Đạo Hợp Tác Toàn Diện" để làm việc một cách cụ thể với Ủy ban Hợp tác Toàn diện của Trung Cộng.
Phiên họp lần thứ tư, phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo Hợp Tác Toàn Diện

Vì sao phải thành lập ủy ban chỉ đạo hợp tác toàn diện? Một quốc gia độc lập chỉ cần xác định chính sách ngoại giao là đủ. Khi cần thì ký những hiệp ước, những thỏa thuận riêng biệt cho mỗi vấn đề.

5.2.2. Hợp tác toàn diện về kinh tế với Bắc Kinh
1). Thiết lập những nguyên tắc luật pháp căn bản về kinh tế

Năm 2005, trong số 44 hiệp định và thỏa thuận về kinh tế và thương mại, Việt Nam và Trung Cộng đã có 20 văn bản thỏa thuận làm căn bản pháp lý trong quan hệ giữa Việt Nam với các địa phương bên Trung Cộng. Đó là: Hiệp định thương mại, Hiệp định mua bán vùng biên giới, Hiệp định thành lập Ủy Ban Việt-Trung về kinh tế và thương mại.

Hiệp định giao thông đường sắt cao tốc và đường bộ, đường hàng không để lưu thông hàng hóa giữa địa phương với trung ương Bắc Kinh.

Từ ngày 1-1-2004 Việt Nam và Trung Cộng thực hiện bãi bỏ thuế xuất, nhập khẩu. Các cặp cửa khẩu hai bên đã được khai thông tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông tự do, mở ra một thời kỳ giao lưu hàng hóa không biên giới giữa hai bên.

2). Kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào chính quyền trung ương Bắc Kinh
Hợp tác toàn diện về kinh tế thương mại

a. Về đầu tư xây dựng

Nhà thầu Trung Cộng hầu như thắng thầu hầu hết những công trình quan trọng với loại thầu trọn gói EPC, còn gọi là "hợp đồng trọn gói" hay "hợp đồng chìa khoá trao tay".

EPC là Engineering , Procurement and Construction. (Thiết kế, mua sắn, xây dựng). 

Hiện nay có 90% gói thầu EPC được giao cho Trung Cộng thực hiện, bao gồm những dự án lớn và quan trọng về năng lượng (nhà máy điện), kim loại, hoá chất…điều nầy cho biết Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng rồi.

b. Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam

Thương lái Trung Cộng xâm nhập vào các vùng sâu, dùng thủ thuật giá, mua những thứ như cây tràm cỗ ở Quảng Ngãi, và những thứ không biết để làm gì, nhưng đã để lại những tác hại vô cùng to lớn. Đó là đánh phá thị trường VN.

Nông sản, thực phẩm, hàng công nghiệp giá rẻ, mà không được kiểm soát về chất lượng, vệ sinh, an toàn, thậm chí có những mặt hàng Trung Cộng mà dán nhãn sản xuất ở VN. Nhiều trường hợp dán cờ Trung Cộng trên các sản phẩm bày bán ở các siêu thị VN.

Hàng hóa rẻ tiền của Trung Cộng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, giết chết các công ty trung bình và nhỏ trong nước, đưa đến công nhân thất nghiệp.

c. Nhập siêu của Việt Nam chứng tỏ lệ thuộc kinh tế

Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa Trung Cộng (TC) 36tỷ 960 triệu USD, trong khi đó xuất khẩu chỉ có 13tỷ 960 triệu USD. Đó là nhập siêu. Sự chênh lệch về cán cân mậu dịch nầy khiến cho VN phụ thuộc vào TC.

TS Lê Đăng Doanh nêu nhận xét: "Mức nhập siêu to lớn nầy gây sức ép rất nặng khiến cho VN phụ thuộc vào TC: mất ngoại tệ, mất thị trường trong nước, công nhân mất việc. Khi người dân mua hàng hóa TC đồng nghĩa với việc trả lương cho công nhân nước nầy".

5.2.3. Hợp tác toàn diện về văn hóa giáo dục

1). Việt Nam cam kết giáo dục nhân dân về 16 chữ vàng và 4 tốt

Ngày 21-2-2013, Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên BCT dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang Bắc Kinh. Hai bên đã ký một thỏa thuận hợp tác toàn diện cho giai đoạn 5 năm từ 2014-2019.

Nguyễn Thiện Nhân, cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, cam kết, với tư cách Chủ tịch Ủy ban Trung Ương Mặt Trận Tổ quốc VN (MT/TQ/VN), ông sẽ vận động quần chúng nhân dân thực hiện tốt 16 chữ vàng và 4 tốt để hoàn thành tốt thoả thuận của hai bên từ khi bình thường hóa năm 1990. Ông Nhân cho biết MT/TQ/VN sẽ triển khai chức năng và nhiệm vụ mới trong Hiến pháp 2013 là "giám sát phản biện xã hội" để tăng cường hiểu biết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc.

Việt Nam sẽ thực hiện Cung Văn hoá Việt-Trung tại Hà Nội. Trong 15 năm, kể từ 2005 Việt Nam đã cử hơn 100 đoàn đại biểu văn hóa trên các lãnh vực: báo chí, âm nhạc, điện ảnh, kịch nghệ, truyền hình sang tham quan học hỏi và trình diễn ở Bắc Kinh.

2). Giáo dục thanh niên
Chủ tịch Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam và Bí thư Thứ nhất TƯ Đoàn Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Nguyễn Đắc Vinh giao lưu với các đại biểu thanh niên hai nước
Hữu nghị giữa hai đoàn thanh niên khu tự trị VN & Trung Quốc

Theo một hiệp định, mỗi năm Trung Cộng cấp 130 suất học bổng cho sinh viên VN, đồng thời VN chỉ cấp 15 học bổng cho sinh viên Trung Cộng, có nghĩa là Bắc Kinh đào tạn cán bộ tương lai cho họ.

Việt Nam đưa những đoàn thanh niên sang thăm viếng, hợp tác hữu nghị với thanh niên sắc tộc của các khu tự trị. Nổi bật nhất là Liên hoan thanh niên VN-TQ được tổ chức vào ngày 26-11-2013, 3,000 thanh niên do Nguyễn Thiện Nhân hướng dẫn tham dự liên hoan. Trong diễn văn, ông Nhân cho biết: "Đây là dịp để thế hệ trẻ hai nước kết chặt quan hệ hai đảng, hai nước, không ngừng đơm hoa kết trái, vun đắp tình hữu nghị của hai dân tộc".

Định hướng dư luận, Lập Viện Khổng Tử, nằm trong hợp tác văn hoá giáo dục cho thanh niên.

16 chữ vàng và 4 tốt là chiêu bài ngụy trang cho chương trình 30 năm để VN hội nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, nói thẳng ra là chương trình bán nước của đảng CSVN.

5.2.4. Trung Cộng di dân vào Việt Nam

Bọn Tàu khựa vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi luông tuồng như đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn họ đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả.

Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxit Tây Nguyên đến Cà Mau, có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy quốc phòng, cơ xưởng…

Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

1). Khu phố Tàu Bình Dương
Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố (Chữ Tàu trên cổng vào)
Khu công nghệ cao. Khu thể thao

Tờ Việt Báo tại hải ngoại có bài viết tựa đề: "Cờ Trung Quốc treo rợp Bình Dương: Dân Việt có nguy cơ mất đất"
 

Theo bài báo thì "Cờ Trung Cộng treo tưng bừng tại Bỉnh Dương để mừng Quốc Khánh lần thứ 90 của Trung Cộng bởi vì người Hoa đang cư ngụ đông đảo ở Phố Tàu nơi đây.

Một bài viết có tựa đề "Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa" còn đưa ra quan ngại rằng "trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ không còn được sống trên quê hương mình".

Bài báo viết tiếp:

"Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẳng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt sẽ chỉ được sử dụng một phạm vi bao nhiêu bởi vì, biển, rừng, đô thị đều có bóng dáng của người Hoa.

Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó chen chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện 1,000 giường, một khu phức hợp: thể thao, hội nghị, tiệc cưới, một sân golf, các cửa hiệu thương mại và một khu giải trí.

Bọn Tàu khựa sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực VN không được vào kiểm tra cần thiết để nắm quyền kiểm soát khu vực.

Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. 


Vậy hỏi quyền lực quốc gia còn đâu nữa?  

6* Những bản tuyên bố chung của lãnh đạo CSVN

6.1. Thỏa thuận 4 điểm của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh

Ngày 22-8-2006, Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh thúc đẩy tăng cường quan hệ toàn diện và nhất trí với Hồ Cẩm Đào 4 khía cạnh:

Thứ nhất. Lãnh đạo cao cấp hai bên phải duy trì "quan hệ gần gũi" thông qua những cuộc viếng thăm cấp cao.

Thứ hai. Quan hệ kinh tế thương mại phải được nâng lên nấc thang cao mới, cụ thể hơn.

Thứ ba. Vấn đề lãnh thổ phải luôn luôn đạt được "sự đồng thuận", bảo đảm ổn định lâu dài. (Nếu đồng thuận thì ổn định)

Thứ tư. Hai bên thống nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng để có nền tảng phát triển bền vững và hữu nghị. 

Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự.

(Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?) 

6.2. Bản tuyên bố chung của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào ngày 15-10-2011

1. Hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước.

 

2. Phía Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng 90 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc vui mừng trước những thành tựu mang tính lịch sử dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

3. Hai bên đã nhìn lại và tổng kết 20 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ (1990), khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.( Thôn tính tương lai)

6.3. Bản tuyên bố chung của Trương Tấn Sang

Trong bản tuyên bố chung ngày 21-6-2013 được ký bởi Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, có đoạn ghi như sau:

– Dân sự: Đào tạo nhân dân, văn hóa, giáo dục, y tế, sản xuất, chế biến. Khai thác lãnh thổ, lãnh hải, đất liền, biên giới, cửa khẩu, biển Đông, rừng núi, đầu tư, khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, môi trường, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, giao thông, vận tải và du lịch.

– Chính trị: Xây dựng nguồn máy đảng, và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tham vấn chính phủ, ban tuyên giáo, ban đối ngoại trung ương, ban lý luận, đào tạo hữu nghị quân, dân, cán chính cao cấp.

– Quân sự: Quân đội, quốc phòng, khí tài, an ninh, ngoại giao.

Kế hoạch toàn diện qui định mỗi bộ phận đặt đường dây nóng tự quản và kết nối quản trị Bắc Kinh. 

(Đường dây nóng tự quản với Bắc Kinh là nhận lịnh trực tiếp từ chính quyền trung ương ở Bắc Kinh)

Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế "bất xâm phạm" từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.

"Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các tỉnh, khu vực của hai nước, nhất là giữa 7 tỉnh của Việt Nam: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, hợp tác toàn diện với 4 khu tự trị của Trung Quốc gồm có: Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam".

Trước hết Trung Cộng muốn Việt Nam hội nhập với 4 khu tự trị để trở thành 5 khu tự trị gồm có: Mãn, Tạng, Hồi, Mông và khu tự trị mới là Việt Nam. Và cờ Trung Cộng trở thành 6 ngôi sao mà VN đã dùng để chào mừng Tập Cận Bình vừa qua.

Thực tế là chỉ có 3 tỉnh của Trung Cộng mà đòi hợp tác toàn diện với 7 tỉnh Việt Nam, tạo điều kiện dễ dàng và hợp pháp cho thương lái, nhân viên Trung Cộng được đi khắp mọi nơi để nắm tình hình các mặt, biết rõ địa hình địa vật, đường đi lối về, tài nguyên, khoáng sản, đặc sản để khi cần thì xử dụng.

Trên Facebook, nhà bình luận Trần Trung Đạo nêu nhận xét như sau: "Đọc bản tuyên bố chung mới thấy số phận chùm gởi của CSVN phụ thuộc sâu xa vào cây cổ thụ già Cộng Sản Trung Quốc đến mức độ nào. Sự khiếp nhược và ươn hèn thể hiện rõ đến mức chỉ trong một văn bản 8 điểm mà có tổng cộng 29 lần "nhất trí". 

7* Cộng Sản Việt Nam bị cấy sinh tử phù

Trung Cộng đang nắm trong tay những con bài tẩy bằng văn bản chính thức đã được các lãnh đạo CSVN ký và cam kết thi hành. Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng chỉ là con bài thứ nhất mà thôi. Những lá bài khác như biên bản bí mật ở Thành Đô năm 1990 và những bản tuyên bố chung đã được ký kết như đã nêu trên.

Thiên la địa võng đã bày ra để khống chế và trừng trị Hán ngụy Việt Nam nếu phản chủ. Các vị trí chiến lược chủ yếu như rừng đầu nguồn, Lào, Campuchia, Tây Nguyên, hệ thống giao thông cao tốc xuyên Việt…và những sư đoàn của đạo quân thứ năm dưới lớp áo công nhân, thương nhân…khiến cho số phận của lãnh đạo CSVN thê thảm như con cá nằm trên tấm thớt của Trung Cộng.

Khi Tập Cận Bình niệm thần chú thì bộ tứ "hùng dũng sang trọng" vừa ôm đầu vừa gật đầu lia lịa.

8* Vì sao Trung Cộng không muốn đưa nội vụ ra tòa án quốc tế?

Ngày 2-6-2014 báo South China Morning Post tường thuật rằng ngày 1-6-2014 Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu toà án trọng tài quốc tế phân xử tranh chấp, nhưng nói đó là tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc.

Trước đó, Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết là VN đã chuẩn bị bằng chứng cho hồ sơ pháp lý nầy, nhưng mọi việc sẽ do Bộ Chính Trị quyết định.

Ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ lại lên tiếng là kiện chẳng ăn thua gì.

Có thể dùng câu "Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm" để biết bản chất của CSVN trong vấn đề nầy.

Vì sao Trung Cộng không muốn nội vụ được đưa ra toà án quốc tế?

Không phải TC sợ bị thua kiện, vì họ đã có khả năng vô hiệu hóa vụ kiện 100% bởi quyền phủ quyết ở HĐ/BA/LHQ, mà cũng không phải vì Trung Cộng sợ dư luận quốc tế, vì nếu sợ thì đã không làm ngang tàng như thế..

Điều mà Trung Cộng mong muốn là "những mâu thuẩn trong gia đình" phải để gia đình giải quyết. Tập quán Á Đông là nếu đưa chuyện nôi bộ gia đình ra ngoài thì chẳng khác gì "vạch áo cho người xem lưng". Điều Trung Cộng muốn là Việt Nam phải là một trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc mà Nguyễn Văn Linh đã lặn lội từ Hà Nội đến Thành Đô để thỉnh cầu hồi năm 1990.

Đây là phép thử, xem CSVN có đủ can đảm để thoát ra đại gia đình các dân tộc TQ đó không?

Nếu quan sát kỹ những tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Chí Vịnh và Trần Công Trục nêu trên, thì có thể đoán được lãnh đạo CSVN vẫn còn hèn nhát, vì không dám phản chủ, nên chỉ dám nói mà không dám làm. Hơn nữa Việt Cộng đã bị cấy sinh tử phù và niền chiếc vòng kim cô lên đầu rồi thì chẳng còn hành động can đảm nào nữa cả.

Hãy chờ xem!

9* Kết luận

Giả sử như Wikileaks không tiết lộ biên bản bí mật ở hội nghi Thành Đô năm 1990, hoặc xem như không có nó, thì những hành động của đảng CSVN cũng đã bị lên án là bán nước, hèn nhát vì đã đặt đất nước, dân tộc Việt Nam dưới tay bọn Trung Cộng. Sự thật hiển nhiên đó không thể vối cãi được.

Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Cộng từ lâu rồi. Ông Vương Gia Thụy, Trưởng ban Đối ngoại Trung Cộng, đã nêu những bằng chứng cho thấy Việt Nam đã được sát nhập vào Trung Cộng, như sau: "Việt Nam và Trung Quốc đã hợp tác chiến lược toàn diện. Cơ chế xã hội giống hệt nhau. Con đường phát triển tương tự như một. Quan hệ hai nhà nước ổn định và cùng một mục đích phát triển chấn hưng sự nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa".

Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: "Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau" (Vua Trần Nhân Tông)

"Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!"./-


 
Trúc Giang
Minnesota ngày 4-6-2014